1. Kết quả:
- Về mục tiêu: Phần lớn dự án đã đạt được những mục tiêu đã đề ra, trong đó có một số chỉ tiêu hỗ trợ đã vượt như: Hỗ trợ tư vấn cho TELT và NCLT vượt 10,3%; Hỗ trợ giáo dục vượt 8,7%; Hỗ trợ Y tế vượt 52%; Hỗ trợ các gia đình tập huấn kỹ thuật chăn nuôi, trồng trọt vượt 157,4%; Hoạt động vui chơi giải trí tái hòa nhập cộng đồng cho TELT hồi gia đã tổ chức tại 51 xã/phường thu hút 15.369 lượt trẻ em tham gia, trong đó đã có 414 TELT hồi gia (đạt 82,8%). Một số chỉ tiêu hỗ trợ chưa đạt như: Hỗ trợ học nghề đạt 68,5%; Hỗ trợ chăm sóc thay thế đạt 44%; Hỗ trợ vốn vay đạt 67,9%; Hỗ trợ sở xã hội đạt 50%; Hỗ trợ đột xuất đạt 63,2%.
- Về chất lượng: Các hoạt động đã đảm bảo chất lượng, yêu cầu đặt ra như hoạt động nâng cao năng lực tổ chức đúng đối tượng, nội dung, thời gian, chất lượng giảng viên được chọn lọc phù hợp với nội dung; sau tập huấn các cán bộ đã biết áp dụng kiến thức vào việc thực hiện các hoạt động tại địa phương.
- Về thời gian thực hiện: Một số hoạt động đã đảm bảo đúng tiến độ thời gian đã đặt ra như: tập huấn, đánh giá cộng đồng, hỗ trợ trẻ em.
- Về tiến độ giải ngân: Các nội dung hoạt động được thực hiện theo quy định của Văn kiện dự án và yêu cầu của kế hoạch, tính đến hết 31/12/2010 tỷ lệ giải ngân đạt 66% (chưa tính kinh phí bổ sung năm 2011)
2. Những hạn chế cần khắc phục:
- Về mục tiêu: Hoạt động Hỗ trợ dạy nghề chỉ tiêu khó đạt nguyên nhân do: Triển khai hoạt động này còn chậm; Các đối tượng có sự lựa chọn ngành nghề khác nhau (thích/không thích); Nghề đào tạo cho trẻ em cần lựa chọn để phù hợp với địa phương và phần lớn các em thích học nghề phải có chứng chỉ; Cơ chế quản lý/cách điều hành còn nhiều hạn chế (có nơi cấp tỉnh tự đứng ra thực hiện, có nơi giao cho cấp xã thực hiện); Kinh phí dành cho học nghề còn ít (chỉ đủ học nghề ngắn hạn).
- Về chất lượng: Hoạt động tập huấn, hội thảo chưa có báo cáo kết quả đánh giá; vai trò quản lý của Phòng LĐ,TB&XH (cấp huyện) ở các tỉnh chưa rõ, phần lớn các tỉnh chưa phát huy sự phối hợp trong công tác quản lý thực hiện dự án; Năng lực quản lý dự án còn hạn chế nhiều hoạt động bị triển khai chậm; Một số địa phương còn chưa nghiêm túc thực hiện công tác báo cáo đúng thời hạn (báo cáo tài chính; báo cáo hoạt động).
- Về sử dụng kinh phí: Tiến độ giải ngân chậm do còn nhiều hoạt động có mức kinh phí lớn được tập trung vào cuối năm 2010 (như học tập kinh nghiệm nước ngoài, kiểm toán, hội nghị tổng kết năm...). Một số địa phương còn chưa nghiêm túc thực hiện quy định về báo cáo tài chính với BQLDA TW.
- Hướng chỉ đạo: Mở rộng mô hình BVCSTE và lồng ghép với các hoạt động khác tại địa phương.
3. Bài học kinh nghiệm:
- Phương pháp tiếp cận với đối tượng: Dự án lấy gia đình và cộng đồng dân cư nơi trẻ sinh sống qua đánh giá cộng đồng làm cơ sở để xác định TELT và NCLT; Đề cao vai trò, trách nhiệm của cấp xã trong việc xác định đối tượng TELT và NCLT, đồng thời vận động TELT hồi gia và ngăn ngừa trẻ em NCLT; Phương pháp tiếp cận này khác với các dự án khác là sử dụng bộ máy trung gian để thu gom TELT lại, sau đó phân loại yêu cầu hồi gia, thậm chí cưỡng bức để các em phải hồi gia, vì vậy mô hình can thiệp, hỗ trợ này chưa đạt được kết quả bền vững.
- Kế hoạch hoạt động: Dự án giao cho địa phương chủ động xây dựng và đưa ra các giải pháp để hỗ trợ TELT, ngăn ngừa trẻ em NCLT. Dự án được thực hiện công khai, minh bạch có sự tham gia của người dân và chính quyền cơ sở.
- Đội ngũ cán bộ dự án: Để thực hiện dự án được tốt và hiệu quả, đội ngũ cán bộ dự án được tuyển chọn từ địa phương, do địa phương đề nghị và được đào tạo, bồi dưỡng thường xuyên để nâng cao nghiệp vụ.
- Cơ sở vật chất, kỹ thuật: Ngoài các tài sản hữu dụng, dự án còn được trang bị những giải pháp thực tế, phù hợp với điều kiện quản lý hiện đại như: Phần mềm quản lý thông tin, kế toán dùng để giám sát các chỉ tiêu hỗ trợ; (dành cho cấp tỉnh); Sổ quản lý và theo dõi tình hình hỗ trợ trẻ em (dành cho cấp xã) và các tài liệu phục vụ công tác quản lý dự án.
- Hoạt động truyền thông: Có sự tham gia tích cực của chính quyền địa phương và người dân thông qua các cuộc họp thôn/xóm/tổ dân phố; Loa phát thanh và các hoạt động khác.
- Sự tham gia của cơ sở: Luôn khuyến khích sự tham gia của chính quyền địa phương và người dân vào các hoạt động xây dựng các mô hình hỗ trợ TELT và ngăn ngừa trẻ em NCLT như xây dựng mô hình Nhà trọ thân thiện; Gia đình không để trẻ em đi lang thang; Thôn/Tổ không có trẻ đi lang thang.
- Kiểm tra, giám sát: Dự án luôn tăng cường và khuyến khích người dân tham gia vào hoạt động kiểm tra, giám sát dự án, kịp thời phát hiện và phản ánh các vấn đề còn thiếu sót trong quá trình thực hiện dự án tại địa phương.
- Sự tham gia của trẻ em: TELT và NCLT luôn được khuyến khích và đề cao trong các hoạt động của dự án; Quyền trẻ em được thể hiện trong việc thành lập CLB Quyền trẻ em tại các xã đã thu hút hàng trăm trẻ em và các gia đình, đoàn thể, chính quyền địa phương tham gia CLB này.