1. Tổ chức cán bộ:
Tháng 10/2008, Bộ trưởng Bộ Lao động -Thương binh và Xã hội (LĐTBXH) đã quyết định thành lập Ban chỉ đạo dự án và BQLDA Trung ương. Ban chỉ đạo dự án gồm 05 thành viên: Trưởng ban chỉ đạo là Thứ trưởng Thường trực Bộ LĐTBXH và các thành viên Ban chỉ đạo là lãnh đạo của các Vụ Kế hoạch - Tài chính, Vụ Hợp tác quốc tế, Vụ Pháp chế, Tổng cục dạy nghề, Cục Bảo vệ chăm sóc trẻ em (BVCSTE). Ban chỉ đạo dự án có trách nhiệm chỉ đạo thực hiện, xem xét các hoạt động thông qua các kế hoạch và ngân sách tổng thể hàng năm của dự án.
- Ban quản lý dự án (BQLDA) Trung ương gồm có 07 chức danh: Giám đốc dự án là Phó Cục trưởng Cục BVCSTE, Kế toán, Cán bộ hành chính, Điều phối viên dự án; Cán bộ truyền thông; Cán bộ đào tạo và Cán bộ hệ thống thông tin quản lý. Ngay sau khi thành lập BQLDA Trung ương đã tham mưu trình Bộ hướng dẫn Sở LĐTBXH kiện toàn BQLDA 10 tỉnh/thành phố dự án trực thuộc Sở LĐTBXH.
- BQLDA các tỉnh/thành phố trung bình mỗi tỉnh từ 04 - 05 người gồm có Trưởng Ban, điều phối viên, kế toán và cán bộ hành chính thông tin quản lý, tổng số cán bộ tại BQLDA địa phương là 43 người.
- Ở mỗi xã dự án có 01 cán sự xã hội (CSXH) và 4-5 tình nguyện viên (TNV). Hầu hết cán sự xã hội được BQLDA tỉnh tuyển dụng bố trí làm việc thường xuyên ở xã hoặc do cán bộ xã kiêm nhiệm, riêng tỉnh Vĩnh Phúc do cán bộ Sở Lao động-Thương binh và Xã hội kiêm nhiệm, không trực tiếp làm việc tại xã.
2. Nâng cao năng lực trong công tác quản lý và điều phối dự án:
Hoạt động nâng cao năng lực tập trung vào phát triển, thực hiện chính sách bảo vệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, hỗ trợ trẻ em lang thang (TELT) và có nguy cơ lang thang (NCLT); năng lực lập kế hoạch, năng lực quản lý, điều phối các hoạt động; kỹ năng làm việc cộng đồng và quản lý thông tin, dữ liệu và các hoạt động hỗ trợ TELT, NCLT.
- Trong công tác xây dựng kế hoạch, hàng năm BQLDA hướng dẫn địa phương chủ động xây dựng kế hoạch thực hiện từ các xã dự án. Phê duyệt kế hoạch, chỉ tiêu và nguồn kinh phí công khai từ BQLDA Trung ương cho tới các hoạt động ở cấp xã.
- Tổ chức các hội nghị, lớp tập huấn, hội thảo trong ngành, liên ngành ở cấp Trung ương, cấp tỉnh, cấp xã nhằm nâng cao sự phối hợp của các bên liên quan trong việc triển khai kế hoạch ngăn ngừa trẻ em đi lang thang và xây dựng hệ thống chính sách phù hợp.
- Tổ chức tham quan chia sẻ và học hỏi kinh nghiệm để tìm giải pháp phù hợp nhằm hỗ trợ cho TELT, trẻ em có NCLT đạt hiệu quả cao hơn, đồng thời phổ biên, nhân rộng mô hình tốt ở địa phương.
- Hệ thống thông tin quản lý: Tổ chức sử dụng thông tin làm công cụ phục vụ cho công tác quản lý, lập kế hoạch, giám sát từ đó thúc đẩy việc tổ chức thực hiện hỗ trợ từ dự án và các chính sách của Nhà nước có liên quan. Hiện nay có, 02 phần mềm quản lý dự án gồm: Quản lý hệ thống thông tin của dự án về TELT, NCLT, kiểm tra, giám sát, báo cáo và lập kế hoạch; Phần mềm kế toán giúp quản lý các hoạt động về tài chính đang được vận hành và phục vụ tốt cho công tác quản lý và điều phối các hoạt động dự án.
3. Hoạt động hỗ trợ TELT và NCLT:
Để xác định chính xác đối tượng, BQLDA Trung ương đã chỉ đạo các tỉnh thực hiện đánh giá cộng đồng theo tài liệu hướng dẫn. Hàng năm đối tượng của dự án được rà soát lại, đồng thời xác định những đối tượng mới phát sinh. Kết quả đánh giá cộng đồng hàng năm cho thấy số TELT và NCLT giảm dần, cụ thể như sau:
Bảng 1: Kết quả đánh giá cộng đồng sau 3 năm thực hiện dự án
|
tt
|
Tên
địa phương
|
Đầu dự án
|
Kết thúc dự án
|
Số TELT hồi gia
|
|
TELT
|
NCLT
|
TELT
|
NCLT
|
|
1
|
Vĩnh Phúc
|
77
|
355
|
1
|
357
|
52
|
|
2
|
Hưng Yên
|
96
|
283
|
10
|
335
|
42
|
|
3
|
Thanh Hóa
|
444
|
3124
|
50
|
2.766
|
265
|
|
4
|
Hà Tĩnh
|
41
|
580
|
2
|
522
|
26
|
|
5
|
TT Huế
|
129
|
532
|
13
|
553
|
83
|
|
6
|
Quảng Ngãi
|
24
|
429
|
0
|
603
|
11
|
|
7
|
Phú Yên
|
115
|
946
|
7
|
837
|
100
|
|
8
|
Khánh Hòa
|
0
|
548
|
0
|
589
|
0
|
|
Tổng
|
926
|
6797
|
83
|
6.552
|
579
|
Kết quả kết quả đánh giá cộng đồng sau khi có sự hỗ trợ của dự án cho thấy, số TELT giảm 843 em, trong đó có: 579 em được dự án hỗ trợ đã hồi gia; 264 em được dự án hỗ trợ đã hồi gia nhưng đến nay đã hết độ tuổi trẻ em; Đặc biệt trong 3 năm thực hiện các xã trong vùng dự án không có TELT mới phát sinh (không có trường hợp NCLT bỏ nhà đi lang thang kiếm sống)
Đối với hoạt động hỗ trợ TELT và NCLT, tính đến ngày 20/12/2011 phần lớn các chỉ tiêu đã đạt và vượt so với kế hoạch, cụ thể là:
Bảng 2: Kết quả hỗ trợ trẻ em sau 3 năm thực hiện
|
Tt
|
Nội dung hỗ trợ
|
Đơn vị
|
Chỉ tiêu
|
Thực hiện
|
Tỷ lệ (%)
|
|
1
|
Tư vấn
|
Em
|
7.000
|
7.214
|
103
|
|
2
|
Giáo dục
|
Em
|
7.000
|
7.127
|
101,8
|
|
3
|
Y tế
|
Em
|
6.700
|
7.235
|
103,4
|
|
4
|
Học nghề
|
Em
|
1.800
|
1.800
|
100
|
|
5
|
Chăm sóc thay thế
|
Em
|
500
|
519
|
103,8
|
|
6
|
Vay vốn
|
Hộ
|
1.000
|
1.000
|
100
|
|
7
|
Tập huấn cho hộ gia đình
|
Hộ
|
2.000
|
5.938
|
296,9
|
|
8
|
Hoạt động cộng đồng
|
Em
|
500
|
579
|
115,8
|
|
9
|
Hỗ trợ đột xuất
|
Hộ
|
500
|
455
|
91
|
|
10
|
Hỗ trợ cơ sở xã hội
|
Cơ sở
|
26
|
26
|
100
|
Theo số liệu bảng trên cho thấy: Hoạt động hỗ trợ tư vấn vượt 3% (7.000/7.214 em); Hỗ trợ giáo dục vượt 1,8 % (7.127/7.000 em); Hỗ trợ y tế vượt 3,4 % (7.235/7.000 em); Hỗ trợ học nghề và tạo việc làm đạt 100% (1.800/1.800 em); Hỗ trợ chăm sóc thay thế vượt 3,8% (519/500 em); Hỗ trợ vốn vay cho các hộ gia đình phát triển kinh tế đạt 100% (1.000/1.000 hộ); Hỗ trợ tập huấn kỹ thuật chăn nuôi, trồng trọt vượt 196,9% (5.938/2.000 hộ); Hỗ trợ các hoạt động tại cộng đồng để tái hòa nhập cho trẻ em lang thang hồi gia bền vững vượt 15,8% (579/500 TELT hồi gia tại 51 xã); Hỗ trợ cơ sở bảo trợ xã hội đạt 100% (26/26 cơ sở); Hỗ trợ đột xuất đạt 91%.
4. Tổ chức hoạt động truyền thông, giáo dục:
Với mục đích nâng cao nhận thức, sự hiểu biết đối với cộng đồng, chính quyền và cha mẹ về tác hại của việc trẻ em đi lang. Đảm bảo thực hiện các quyền cơ bản cho trẻ em nhất là TELT và NCLT, nội dung các hoạt động truyền thông đã tập trung vào: Xây dựng tài liệu truyền thông về TELT và trẻ em có NCLT; Nghiên cứu và xây dựng tài liệu; In và phát hành tài liệu. Hợp tác với các cơ quan truyền thông đại chúng nhằm phổ biến rộng rãi các chính sách pháp luật; Tổ chức các sự kiện tập thể lồng ghép truyền thông tại cộng đồng nhằm thu hút sự tham gia đông đảo của mọi tầng lớp nhân dân; Tổ chức các cuộc thi, và hoạt động nhóm nhỏ tại chỗ để đối tượng được tham gia tự bày tỏ, phân tích và chia sẻ; Hỗ trợ các hoạt động truyền thông ở cộng đồng; Tổ chức các hội thảo, hội nghị và trao đổi chia sẻ kinh nghiệm trong lĩnh vực truyền thông. Đặc biệt là tổ chức thí điểm và nhân rộng 101 CLB Quyền trẻ em tại các xã/phường, quận/huyện dự án để thu hút TELT hồi gia tham gia hòa nhập với các bạn cùng trang lứa. Hoạt động truyến thông được thực hiện bằng hình thức trực tiếp và gián tiếp, trong đó BQLDA Trung ương chỉ đạo khuyến khích thực hiện truyền thông thực tiếp. Các hoạt động truyền thông được thực hiện phù hợp với yêu cầu, đối tượng và điều kiện thực tế của từng đơn vị thực hiện dự án.
5. Tính bền vững:
Sau thời gian thực hiện dự án, với những kết quả đã đạt được, BQLDA sơ bộ nhận định tính bền vững của mô hình được khẳng định qua các hoạt động sau:
- Hỗ trợ học nghề tạo việc làm và có thu nhập ổn định: Các tỉnh đã triển khai và áp dụng thành công mô hình học nghề thay thế đan trao đèn, khâu bóng, thêu ren (tỉnh Thanh Hóa, tỉnh Hưng Yên) và học truyền nghề mộc, sửa xe máy, cắt tóc, may... (tỉnh TT Huế, tỉnh Khánh Hòa). Đây là các mô hình học nghề và tạo việc làm thương xuyên, có thu nhập ổn định cho những gia đình có trẻ em lang thang hồi gia và trẻ em có nguy cơ lang thang. Ngoài thu nhập từ nghề làm nông, làm cá các hộ còn có thêm 800.000 – 1.000.000 đồng/tháng thu nhập từ việc học nghề của dự án. Đặc biệt với các hộ mới tham gia học nghề, nếu quá khó khăn ngày học nghề làm ảnh hưởng tới ngày công lao động, ngoài kinh phí dự án cấp cho các gia đình (gồm tiền ăn, tiền vật dụng, tiền học nghề) Ủy ban nhân dân xã vận động thêm các nguồn khác chi bổ sung hỗ trợ thêm các hộ 180.000 đ/người/tháng (xã Hoằng Trạch, tỉnh Thanh Hóa).
- Hỗ trợ vốn vay phát triển kinh tế hộ gia đình: Ngoài ngân sách 3 tỷ đồng hỗ trợ vốn vay ban đầu, hiện nay các tỉnh đã áp dụng thành công hình thức cho vay quay vòng vốn để gia tăng các hộ gia đình được vay vốn và tăng chỉ tiêu vốn vay trong 3 năm qua. Hình thức vốn vay này được áp dụng phổ biến và hiệu quả nhất tại các xã thuộc một số tỉnh Thanh Hóa, Hà Tĩnh, Quảng Ngãi, Phú Yên...
- Tổ chức CLB Quyền trẻ em tại cộng đồng, đây là hoạt động do các em làm chủ và là người điều hành chính trong các buổi sinh hoạt. CLB Quyền trẻ em sinh hoạt dựa trên nội dung các quyền cơ bản của trẻ em, trong đó đề cao quyền được tham gia của trẻ em. Mặt khác sinh hoạt CLB Quyền trẻ em còn giúp cải thiện ý thức cho TELT hồi gia sớm hòa nhập với cộng đồng và là hoạt động truyền thông có hiệu quả nhất do thu hút được nhiều trẻ em trong các lứa tuổi, các gia đình và các cơ quan, đoàn thể tại địa phương. Từ việc thí điểm có 51 CLB Quyền trẻ em, đến nay số lượng đã tăng lên 101 CLB, với số trẻ em sinh hoạt định kỳ 30 em/CLB (vào ngày 15-16 hàng tháng), còn vào các dịp Lễ, Tết… số trẻ em và người lớn tham gia lên tới 50-60 người. Ngoài ra để đảm bảo tính bền vững của mô hình này, kinh phí tổ chức sinh hoạt một buổi chỉ giữ ở mức 200.000 đồng/tháng, với mức kinh phí này sẽ đảm bảo cho Ủy ban Nhân dân xã/phường hỗ trợ CLB Quyền trẻ em khi dự án kết thúc.
6. Hạn chế trong quá trình thực hiện:
- Chỉ đạo triển khai thực hiện dự án và ban hành một số văn bản hướng dẫn chưa kịp thời nên làm ảnh hưởng tới tiến độ thực hiện kế hoạch.
- Ở một số tỉnh cán bộ không ổn định, phải kiêm nhiệm nhiều việc, vì vậy thời gian thực tế làm cho dự án không nhiều, đồng thời gây lãng phí trong đầu tư nâng cao năng lực cán bộ, làm ảnh hưởng đến tiến độ thực hiện dự án (Ví dụ : Tỉnh Vĩnh Phúc thay đổi Trưởng BQLDA, cán sự xã hội và 3 lần thay đổi kế toán; Tỉnh Hà Tĩnh thay đổi Điều phối dự án...)
- Mô hình dự án theo Văn kiện dự án phê duyệt không rõ vai trò của cấp huyện, do đó sự phối hợp thực hiện các hoạt động hỗ trợ TELT hồi gia và ngăn chặn trẻ em NCLT với các hoạt động khác trên địa ban cấp huyện chưa được tốt.
- Các hỗ trợ trực tiếp chưa thật sự tập trung cho các đối tượng ưu tiên và chưa thực hiện đồng thời làm hạn chế kết quả tác động của dự án.
- Một số tỉnh chấp hành các qui định về thông tin, báo cáo chưa nghiêm túc, thường chậm so với qui định.
- Hoạt động truyền thông chưa thực hiện thường xuyên, liên tục. Một số ít xã thực hiện mang tính hình thức, thời vụ (chỉ tập trung vào các thời điểm lễ, tết hoặc các sự kiện khác tại địa phương).