Sự ra đời của luật này tạo thách thức lớn đối với quan điểm giáo dục theo Đạo Khổng đã tồn tại từ rất lâu ở Việt Nam, theo đó nhấn mạnh quyền lực mạnh mẽ của người lớn đối với trẻ em. Những Luật khác cũng đã được ban hành và sửa đổi nhằm giúp tạo môi trường có lợi cho trẻ em tham gia vào các khía cạnh khác nhau của cuộc sống.
1. Ý nghĩa của “Sự tham gia của trẻ em”
Mặc dù Công Ước về Quyền Trẻ em (CRC) không đề cập riêng “quyền được tham gia” trong một điều khoản riêng biệt nào, nhưng nó có mặt trong một nhóm các điều khoản của Công ước như “các điều khoản về tham gia”, với điều 12 được coi là “xương sống”. Các quyền nằm trong nhóm này là: quyền được bày tỏ ý kiến và được lắng nghe (điều 12); quyền tìm kiếm thông tin, và tự do bày tỏ ý kiến (điều 13); quyền riêng tư (điều 16); quyền được tự do kết giao và hội họp (điều 15) và quyền tự do tín ngưỡng và tôn giáo (điều 14).
CRC khuyến khích mọi trẻ em tham gia và cung cấp các hỗ trợ cần thiết để khuyến khích việc này. CRC mang lại cách nhìn mới về trẻ em như là những nhân tố thay đổi. Mặc dù là “người dễ bị tổn thương cần có sự bảo vệ và trợ giúp của gia đình, xã hội và nhà nước”, nhưng mỗi trẻ em có thể “hình thành và bày tỏ ý kiến, tham gia vào quá tình đưa ra quyết định và tạo ảnh hưởng tới các giải pháp, can thiệp trong vai trò là người cộng tác trong quá trình thay đổi xã hội và xây dựng dân chủ. Tuy nhiên những người xung quanh trẻ em, đặc biệt là cha mẹ hoặc người giám hộ, người chăm sóc và thầy cô giáo nên đảm bảo sự tham gia như vậy được thúc đẩy theo cách không ảnh hưởng tiêu cực tới những lợi ích và sự phát triển của trẻ em.
Có nhiều lý do khiến sự tham gia của trẻ em quan trọng. Trước tiên, sự tham gia của trẻ em cải thiện quá trình đưa ra quyết định của các tổ chức và chính phủ. Sự tham gia của các em giúp đảm bảo những quyết định này đáp ứng nhu cầu thực sự hoặc các mối quan tâm của trẻ em, như các em đã bày tỏ chứ không phải do người lớn giả định. Trẻ em có những mối quan tâm, nhu cầu và mong muốn khác so với người lớn, các em có thể không tạo được ảnh hưởng đối với các quyết định trừ khi có những nỗ lực tạo điều kiện cho các em làm được điều này. Hơn nữa, sự tham gia đảm bảo rằng trẻ em với kinh nghiệm trực tiếp trong một số tình huống nhất định có thể nêu lên ý kiến về vấn đề của mình. Sự tham gia cũng mang lại những lợi ích cụ thể cho nhóm trẻ em bị sao nhãng và trẻ em nghèo-những phương tiện để nói lên tiếng nói của mình. Sự tham gia của trẻ em cũng ghi nhận thay đổi từ quan điểm trẻ em “là người hưởng lợi” của các can thiệp của người lớn sang quan điểm tôn trọng nguyên tắc trẻ em cũng có quyền. §ång thêi, sự tham gia là một phương tiện quan trọng để trẻ em được sống trong xã hội như những công dân năng động và góp phần thay đổi mối quan hệ quyền lực giữa trẻ em và người lớn.
2.Khái quát sự tham gia của trẻ em Việt Nam
Mặc dù Chính phủ đã cam kết tuân thủ những nghĩa vụ đề ra trong hiệp ước, vẫn có nhiều chủ thể có trách nhiệm hay “người có nghĩa vụ”,c«ng chøc, nhà quản lý giáo dục, giáo viên, cha mẹ, người chăm sóc và những người lớn xung quanh có thể có những mối quan tâm đối với nhóm quyền tham gia cho trẻ em.Trong bối cảnh toàn cầu hóa, hiện đại hoá kinh tế-xã hội thường liên quan đến sự nhấn mạnh và giá trị hơn về tự thể hiện mình, dẫn đến nhu cầu của người dân về một nền dân chủ hiệu quả ngày càng tăng lên, trong đó bao gồm những khía cạnh dân chủ của quyền được tham gia của trẻ em.
Cũng như ở nhiều quốc gia khác, mặc dù có những lợi ích thiết thực, nhưng quyền tham gia của trẻ em vẫn còn mới mẻ và cần những thay đổi căn bản khi nhìn nhận mối quan hệ giữa người lớn và trẻ em ở Việt Nam, theo bối cảnh văn hoá và lịch sử. Văn hoá trẻ em tham gia đòi hỏi phải có thay đổi một số truyền thống địa phương và các cách dạy dỗ con cái đã được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác hàng thế kỷ nay. Do đó, hiện tại ở Việt Nam, phạm vi tham gia của trẻ em nhìn chung còn phụ thuộc vào thái độ và sự rộng lượng của người lớn.
Mối quan hệ quyền lực trẻ em-người lớn do văn hoá và xã hội xây dựng nên. Mặc dù chính phủ Việt Nam cam kết thực hiện các nghĩa vụ đã đề ra phù hợp với chuẩn mực về quyền con người, vẫn còn nhiều quan điểm và các thông lệ về gia đình và văn hoá làm hạn chế sự tham gia thực sự của trẻ em. Mối quan hệ “tự nhiên” xây dựng dựa trên quyền lực, địa vị, ảnh hưởng và độ tuổi cao hơn và văn hoá thứ bậc theo họ hàng trong xã hội Việt Nam.
Không giống như một số nền văn hoá khác mà ở đó khi những người nói chuyện chỉ đơn thuần gọi nhau là “I, we” anh “you”, thì có hàng tá các đại từ nhân sng, trong tiếng Việt thể hiện thứ bậc phức tạp giữa những người nói chuyện, đòi hỏi người trả lời phải có ngôn ngữ và hành vi tôn trọng trong khi nói chuyện. Hệ quả của nghi thức truyền thống và ngôn ngữ này làm nhiều trẻ em còn miễn cưỡng trong việc bày tỏ ý kiến của mình một cách cởi mở, đặc biệt là khi những ý kiến của các em không giống với những ý kiến mà những người lớn tuổi hơn đã đưa ra trước đó.
2.1. Sự tham gia của Trẻ em trong gia đình
Ở Việt Nam, trẻ em được coi là “của cải” của gia đình. Đạo Khổng mong muốn cha mẹ phải chăm sóc cho con cái và phải có trách nhiệm với sự phát triển của con cái. Vai trò của chủ hộ hiện vẫn mặc định cho nam giới làm người đưa ra quyết định chính; điều này dẫn đến cơ cấu quyền lực mang tính gia trưởng với trẻ em và phụ nữ trong gia đình, đặc biệt là những gia đình ở nông thôn. Các mâu thuẫn có thể nảy sinh trong vấn đê này, bởi vì không thể nào giả định trước rằng lợi ích của trẻ em và cha mẹ luôn giống nhau.
Theo truyền thống Việt Nam, trẻ em biết vâng lời được coi là thái độ xã hội mong đợi. Điều này càng làm tăng vai trò thứ yếu của trẻ em trong các quá trình đưa ra quyết định trong gia đình mình.
Các giá trị và quy tắc văn hoá đặt trẻ em gái vào vị trí thậm chí còn là yếu thế hơn trong gia đình so với các em trai. Trong Đạo Khổng giá trị của trẻ em gái và phụ nữ được dựa vào 3 điều răn dạy gọi là “tam tòng”(trong gia đình, con gái phải theo cha, sau khi kết hôn thì phải theo chồng; và sau khi chồng chết thì phải theo con trai) và 4 đức hay gọi là “tứ đức” (công, dung, ngôn, hạnh). Tam tòng buộc cuộc đời của người phụ nữ phụ thuộc vào gia đình, đặc biệt là vào đàn ông. Theo tứ đức thì con gái phải thể hiện hành vi cư xử ngoan ngoãn và dịu dàng. Những ai muốn bày tỏ quan điểm của mình thì bị coi là có tính cách “nổi loạn” hoặc “giống con trai” và điều này thường không được đánh giá cao. Sự phân biệt đối xử nam nữ này, bắt đầu từ thời thơ ấu, không khuyến khích các em gái tham gia tích cực vào các vấn đề của gia đình và vào quá trình đưa ra quyết định chung, bởi vì việc trao quyền cho con gái được coi là mâu thuẫn với những quan điểm truyền thống phổ biến về địa vị của họ liên quan đến các nhóm người khác.
Các bậc cha mẹ ở Việt Nam coi trọng việc học hành của con cái mình, và hiện tượng “học thêm” rất phổ biến, thường đặt ra những yêu cầu đáng kể đối với thời gian của trẻ em. Ví dụ, trẻ em ở khu vực thành thị thường phải học quá tải, bao gồm học ở trường, làm bài tập ở nhà và rất nhiều hình thức học gia sư tư nhân khác nhau. Sự đồng tình hay không đồng tình với các vấn đề về giáo dục liên quan đến trẻ em cũng có thể gây ra mâu thuẫn giữa cha mẹ trong việc quyết định xem điều gì mà họ cho là tốt nhất cho con cái mình và quyền được phát triển bản thân của trẻ.
Quyền tối cao của cha mẹ trong việc quyết định hôn nhân trong xã hội truyền thống Việt Nam đã giảm đáng kể cùng với những thay đổi xã hội. Do đó, những lợi ích tập thể của gia đình hoặc của cộng đồng vẫn có thể thay thế hoặc lấy đi một số lựa chọn cá nhân nhất định của trẻ em.
Có thể thấy ví dụ điển hình ở phong tục “cướp vợ” của nam giới người dân tộc H’mong và “cướp chồng” của nữ giới người dân tộc Bahnar và J’rai. Ở những cộng đồng này, lợi ích của việc duy trì sự hiểu thảo của con cái, sự gắn kết cộng đồng được coi là quan trọng hơn việc tham khảo và tôn trọng ý kiến của con cái về việc tảo hôn và lựa chọn bạn đời của họ.
Một khảo sát gần đây về gia đình đã cho thấy mặc dù quy tắc truyền thống “kính lão đắc thọ” vẫn hiện diện ở Việt Nam, nhưng các gia đình đang trở nên dân chủ hơn, có nhều đối thoại hơn giữa thanh thiếu niên và cha mẹ họ. Điều này có thể cho thấy cha mẹ đang ngày càng có thiện chí và có thể lắng nghe con cái họ, điều này có được có lẽ là do quy mô gia đình càng ngày càng nhỏ hơn, và do đó vai trò tiềm năng của mỗi thành viên trong gai đình cũng lớn hơn ở Việt Nam, đặc biệt là ở khu vực thành thị. Tuy nhiên, khảo sát gia đình cũng chỉ ra rằng có một số trẻ em không “dám nói trực tiếp” nếu chúng nghĩ cha mẹ không công bằng. Do gánh nặng phải kiếm sống, các bậc cha mẹ cho biết họ dành ít thời gian cho con cái hơn là họ muốn, đặc biệt là ở gia đình nghèo, các gia đình ở khu vực nông thôn và các dân tộc thiểu số. Điều này có khả năng sẽ khiến mối quan hệ cha mẹ-con cái khó có thể được xây dựng dựa trên nguyên tắc con cái được bày tỏ ý kiến và được lắng nghe.
Một số sáng kiến đã được thực hiện để thúc đẩy hơn nữa tiếng nói của trẻ em trong gia đình. Ví dụ dự án chăm sóc và phát triển trẻ thơ, Quỹ Nhi đồng Anh (SCUK) tổ chức tập huấn cho cha mẹ về kỹ năng làm cha mẹ và CRC. Tập huấn
này giúp cha mẹ thay đổi thái độ đối với con cái của họ, ví dụ, bằng cách cởi mở hơn và để cho con cái tự lựa chọn quần áo cho mình trước khi đi ra ngoài, hoặc hỏi ý kiến con cái về việc thích ăn thức ăn nào trước khi chuẩn bị nấu ăn. Bằng cách này, trẻ em cảm thấy được tôn trọng hơn và tự tin hơn. Ở những địa điểm tập huấn được tổ chức cho cha mẹ và con cái về CRC, trẻ em được tham khảo ý kiến nhiều hơn. Tuy nhiên, phải chấp nhận rằng việc nâng cao nhận thức về quyền trẻ em hiện vẫn còn hạn chế đặc biệt là ở khu vực miền núi và vùng sâu vùng xa-những nơi có khó khăn về ngôn ngữ. Trẻ em thuộc tầng lớp trung lưu trong xã hội Việt Nam dường như có nhiều cơ hội hơn, về phương diện kênh thông tin, các điều kiện vật chất và khả năng tiếp cận tìm kiếm thông tin, tham gia vào nhiều hoạt động hơn bao gồm giải trí, giáo dục và những hoạt động cộng đồng và tự tin hơn.
2.2. Sự tham gia của trẻ em trong nhà trường
Bộ GD-ĐT đã thông qua phương pháp dạy học lấy trẻ em làm trung tâm và đã có hàng loạt các nỗ lực nhằm đảm bảo phương pháp dạy học cùng tham gia áp dụng. Mặc dù đã có động lực để cải cách các phương pháp dạy học của ngành giáo dục, nhưng vẫn còn thiếu các phương pháp dạy hcọ và học có tính tương tác. Có nhiều lý do dẫn đến trở ngại này, trong đó bao gồm việc thiếu các nhân viên được đào tạo đầy đủ và các nguồn lực dạy học phù hợp, quy mô lớp học vẫn lớn cũng như tình trạng cơ sở vật chất lớp học không phù hợp. Các cách tiếp cận lấy bài giảng làm trung tâm thường đòi hỏi học sinh phải trả lời trước lớp chỉ khi nào họ được yêu cầu. Hầu hết các học sinh đến lớp là để nghe giảng và chép bài giảng của giáo viên và các quy trình dạy học như vậy cản trở học sinh tự do phát triển và tham gia tích cực.
Việc dạy quyền tham gia của trẻ em trong trường học phần lớn là nhỏ lẻ và còn lý thuyết mà không có các bài tập thực hành hoặc cơ hội để thực hành. Các trường học phần lớn tập trung vào việc truyền tải kiến thức, chứ chưa phải là phát triển kỹ năng, bao gồm các kỹ năng trình bày, kỹ năng giao tiếp, các kỹ năng này rất quan trọng, ảnh hưởng rất lớn đến cuộc sống của một con người. Đăc biệt, một số học sinh thậm chí còn chứng kiến hoặc chịu tình trạng quyền của mình bị xâm phạm dưới hình tức khác nhau như trừng phạt thân thể-một vấn nạn trong ngành giáo dục. Quyền được tham gia không thể được thực hiện trong một môi trường học không thân thiện và không an toàn bởi vì môi trường như vậy ảnh hưởng tiêu cực tới sự tự tin và khả năng giao tiếp của học sinh.
Hơn nữa, hệ thống đánh giá hiện tại khuyến khích học sinh sao chép lại những gì đã có trong bài giảng và học vì điểm số, hơn là phân tích cùng với sự tự do tư duy của học sinh. Các sách giáo khoa được phổ biến soạn mà không tham khảo ý kiến của học sinh. Để đạt được điểm cao học sinh cần phải học thuộc lòng và làm
theo những gì thầy giáo giảng càng nhiều càng tốt. Hơn nữa, tình trạng dạy kèm đã trở thành vấn đề gây rất nhiều tranh cãi trong giáo dục, tình trạng này khuyến khích học sinh làm theo những đáp án mẫu đã được thầy/cô giáo dạy kèm đưa ra.
Việc đạt được phổ cập giáo dục tiểu học đã mang lại cơ hội cho nhiều trẻ em được tham gia vào một số các hoạt động chung bên ngoài môi trường gia đình, thông qua các tổ chức đoàn thể. Trong một số trường hợp, các trường học có thể đóng vai trò như môi trường thay thế bù đắp cho những trẻ em không có gia đình hoặc từ môi trường gia đình không cho phép trẻ tham gia, để đóng góp vào những hoạt động có ý nghĩa. Tuy nhiên, các hoạt động trong nhà trường phần lớn còn gắn với các sự kiện chính hoặc các hoạt động kỷ niệm hang năm và trẻ em không được tham gia nhiều vào các quá trình đưa ra quyết định trong nhà trường.
Các tổ chức Đoàn, Đội thếu niên, dành cho trẻ em từ 9-15 tuổi được thành lập trong cả nước và là các nhánh của Đoàn Thanh niên-một tổ chức đoàn thể. Nhiều tổ chức Đoàn, Đội không hoạt động hiệu quả và không có sự tham gia tích cực của trẻ em trong các hoạt động của mình. Thường thì chỉ có những học sinh có thành tích học tập tốt mới được chọn để đảm nhận các vị trí lãnh đạo, ví dụ như làm lớp trưởng hoặc làm người điều hành/dẫn chương trình cho một số hoạt động của toàn trường. Những học sinh này có nhiều cơ hội tham gia tích cực hơn những em học chưa tốt. Những học sinh này thường trở thành một phần quan trọng sự lựa chọn của nhà trường, trong khi những học sinh này không nhất thiết là đã được đào tạo hoặc được hỗ trợ để thực sự đại diện cho các bạn cùng trang lứa mình.
Mặc dù tổ chức trong trường học phải hỗ trợ sự tham gia của học sinh, nhưng nhiều hoạt động của họ có xu hướng là hình thức, ngoại trừ những học sinh trong ban chỉ đạo của các tổ chức này (không bao gồm những học sinh có thành tích học tập chưa tốt). Ở những trường học có các giáo viên biết về CRC và sự tham gia của trẻ em, được cung cấp các kỹ năng tham gia cho trẻ em thì tình hình được cải thiện nhiều. Kinh nghiệm từ nhiều dự án phát triển cho thấy trẻ em có thể rất giỏi về phát triển các công cụ truyền thông như làm báo cáo vào các dịp đặc biệt (như ngày nhà giáo), hoặc xây dựng các hình thức hoạt động truyền thông đa dạng mà trước đây thường thì chỉ được coi là trách nhiệm của giáo viên
Chính phủ đã miễn học phí cho những trẻ em khó khăn, trong đó có các trẻ em thuộc các gia đình nghèo, trẻ em là người dân tộc thiểu số và trẻ em khuyết tật. Những trẻ em bỏ học được hỗ trợ để đi học lại, hoặc được hỗ trợ để tham gia các lớp học không chính quy hay còn gọi là “lớp học tình thương”. Tuy nhiên, cách này cho thấy việc tái hoà nhập trẻ em vào hệ thống trường học chính quy thì thường khó khăn, và chất lượng của giáo dục không chính quy thì thường biến đổi. Những lớp học tình thương này chỉ dành vài giờ để dạy chứ không phải là những hoạt động ngoại khoá hay các hoạt động khác. Tỷ lệ bỏ học cao và những trẻ em chưa bao giờ đi học vì lý do khác nhau, đặc biệt là các em gái ở một số vùng trong nước dẫn đến những cơ hội hạn chế cho những em này tham gia vào môi trường nhà trường. Những học sinh vừa phải đi học vừa phải đi lao động kiếm tiền cho gia đình có ít cơ hội được tham gia vào các hoạt động của nhà trường hơn là các em khác. Do đó, sự tham gia của trẻ em trong hệ thống nhà trường hoặc các lớp học không chính thức nhìn chung vẫn còn hạn chế. Do đó, các chương trình dựa vào nhà trường dành cho những học sinh này cần phải được thiết kế và thực hiện để giúp các em hoà nhập đầy đủ và tham gia đầy đủ.
Một trong số những khó khăn chính khác cho trẻ em dân tộc thiểu số tham gia vào các trường học là sự khác biệt về văn hoá, trong đó có rào cản về ngôn ngữ. Việc thúc đẩy tiếng Việt làm ngôn ngữ dạy mà không có cách tiếp cận thận trong để hỗ trợ xây dựng trên nền tảng tiếng mẹ đẻ khiến cho các trẻ em dân tộc thiểu số khó đạt được trình độ nhận thức đầy đủ cho việc học hiệu quả và thực hành quyền tham gia của mình trong nhiều khó khăn trong việc tiếp cận những thông tin cơ bản và bày tỏ ý kiến của mình trong lớp học và các cuộc họp chung thường thì chỉ dùng tiếng Việt.
Từ năm 2005, Bộ GD-ĐT đã thực hiện chương trình dạy bằng một số ngôn ngữ dân tộc thiểu số bên cạnh tiếng Việt, như Eđê, Khmer hoặc Chăm, theo nhu cầu và yêu cầu của học sinh. Tuy nhiªn, nhiều giáo viên không phải là cùng thành phần dân tộc thiểu số như học sinh của mình, do đó không phải lúc nào họ cũng có đủ hiểu biết hoặc sự nhạy cảm về văn hoá. Thường thì có một số hoạt động ngoại khoá hoặc nằm trong chương trình học để thúc đẩy tương tác tích cực giữa các em nam và các em nữ hoặc để thúc đẩy sự tự tôn và tự tin của các em. Những nhóm dân tộc thiểu số khác nhau có thể có quan niệm và thái độ khác nhau đối với vấn đề truyền thống và sự tham gia của trẻ em, đặc biệt là giữa các em nam và các em nữ.
2.3. Sự tham gia của trẻ em ở cộng đồng, các trung tâm, cơ sở bảo trợ xã hội
· Trong cộng đồng
Xã hội Việt Nam nhấn mạnh vào lợi ích của trẻ em. Nhiều sự kiện và lễ hội được dành cho trẻ em, như Trung Thu hoặc Ngày Quốc tế thiếu nhi. Nhiều cộng đồng và dòng họ tự lập quỹ khuyến học cho trẻ em nghèo. Tuy nhiên, các thông lệ cộng đồng Việt Nam có xu hướng đặt con cái ở thế bị động vì người ta tin rằng người lớn nên làm việc vì trẻ em và không phải là làm việc với trẻ em.
Mặc dù nhiều hoạt động có sự tham gia của cộng đồng đã được thực hiện ở Việt Nam, hiện vẫn có xu hướng quan tâm tới sự tham gia mang tính chiếu lệ hoặc chỉ là sự tham gia về mặt thể chất, như hát hoặc vẽ tranh, hơn là tham gia tích cực và thực sự vào quá trình đưa ra quyết định. Thường thì các hoạt động tham gia được thực hiện không thường xuyên và có xu hướng không đủ lâu để tạo ảnh hưởng và thay đổi về phương diện chính sách hoặc chương trình. Các phương pháp đa dạng để thúc đẩy sự tham gia theo hình thức này của trẻ em là trong cộng đồng, ví dụ như tổ chức hội nghị, hội thảo về các văn bản pháp luật có liên quan, các cuộc thi tìm hiểu luật pháp, các cuộc thi báo cáo và các cuộc thi vẽ áp phích đã được tổ chức cùng với các chiến dịch truyền thống tại các quận/huyện và thành phố nhân dịp “Tháng hành động vì trẻ em” và “Ngày gia đình Việt Nam”
Các cơ quan truyền thông đã quan tâm tới việc báo cáo các vấn đề quyền trẻ em. Bên cạnh đó, các cơ quan và tổ chức đoàn thể cũng thúc đẩy nhận thức thông qua việc làm băng video, tờ rơi và sách bỏ túi với những thông điệp rõ rang và dễ nhớ kèm theo trình bày hấp dẫn để phát trực tiếp cho các gia đình, phụ nữ và trẻ em, tổ chức các hoạt động câu lạc bộ và các cuộc trình diễn nghệ thuật, các cuộc nói chuyện và họp nhóm để phổ biến luật, kèm theo kinh nghiệm với quan điểm nâng cao nhận thức của gia đình và trách nhiệm đối với việc bảo vệ phụ nữ và trẻ em và giáo dục mọi người nhận thức về những thủ đoạn của bọn tội phạm. Trẻ em ở nhiều nơi (thậm chí ở trong và ngoài nhà trường) đều là chủ thể của công chúng và là lực lượng tham gia tích cực vào các hoạt động, ví dụ liên quan đến phòng ngừa HIV hoặc bảo vệ trẻ em. Những hoạt động như thế diễn ra phần lớn là dưới hình thức diễn đàn cho trẻ em. Những hoạt động như thế diễn ra phần lớn là dưới hình thức diễn đàn cho trẻ em như “Ngôi sao nhỏ”, “Đội truyền thông trẻ em” (Với 12.988 đội trong cả nước), “Câu lạc bộ quyền trẻ em (với 654 nhóm), “Câu lạc bộ phóng viên nhỏ” (với hơn 10 câu lạc bộ).
Song song với các hoạt động truyền thông và giáo dục, chính phủ cũng thúc đẩy các phong trào xây dựng các làng/xã và quận/huyện, đảm bảo rằng các địa bàn này không có các vấn đề xã hội như nghiện ma tuý và mại dâm. Kết quả là ở rất nhiều nơi, người dân đã hiểu về các nguy cơ đối với trẻ em, các biện pháp phòng tránh đã được thực hiện và những nơi này được trang bị kiến thức về luật và chính sách cần có để giải quyết vấn đề liên quan đến cuộc sống của các em cũng như giúp đỡ các bạn khác. Lãnh đạo ở các cấp khác nhau đã đưa ra những chỉ thị kịp thời để giải quyết vấn đề này với tinh thần trách nhiệm cao.
· Trong các Trung tâm, cơ sở bảo trợ xã hội
Kết quả khảo sát tình hình trẻ em được chăm sóc tại các trung tâm, cơ sở bảo trợ xã hội ở Việt Nam cho thấy sự tham gia hạn chế của trẻ em ở các trung tâm bảo trợ xã hội vào các quyết định có thể ảnh hưởng đến các em, ví dụ, chỉ có 14% số trẻ em được phỏng vấn cho Phân tích tình hình Trẻ em được chăm sóc tại trung tâm, cơ sở bảo trợ xã hội đã trả lời rằng các em có thể đưa ra khuyến nghị và ý kiến về các quyết định hoặc các hoạt động liên quan đến các em. Trong một nghiên cứu gần đây về nguy cơ dễ bị ảnh hưởng bởi HIV của trẻ em và thanh thiếu niên sống tại các trung tâm, cơ sở bảo trợ xã hội, mặc dù một số trẻ em cho biết các em phải đi làm xét nghiệm HIV bắt buộc khi vào trường giáo dưỡng nhưng lại không được thông báo về kết quả xét nghiệm. Nhiều em nói rằng các hoạt động và bài học ngoại khoá về sức khoẻ sinh sản do các nhân viên ở các trường giáo dưỡng đưa ra không phù hợp với nhu cầu, lợi ích và độ tuổi của các em. Tuy nhiên, xem xét mối quan hệ quyền lực tồn tại giữa các giám đốc và nhân viên của các Trung tâm, cơ sở này với trẻ em ở trong trung tâm, sự biết ơn sâu sắc của các trẻ em trong trung tâm vì được nuôi dưỡng và chăm sóc thì có thể hiểu được là trẻ em ở trong các trung tâm, cơ sở có thể không có xu hướng yêu cầu tham gia vào các quyết định ảnh hưởng đến các em, và đưa ra những ý kiến về những vấn đề cụ thể.
Ở các cơ quan đại diện như Quốc hội hoặc Hội đồng nhân dân, đã có nhiều cơ hội cho trẻ em tham gia và đưa ra ý kiến của mình. Các cơ quan Trung ương đã phối hợp với các tổ chức quốc tế tổ chức một loạt các diễn đàn và đối thoại với trẻ em ở cấp tỉnh và trung ương, một số diễn đàn như thế này thu hút số lớn trẻ em tham gia. Ví dụ, diễn đàn: “lắng nghe trẻ em va thanh thiếu niên nói về các vấn đề xã hội” bao gồm 400 trẻ em ở trong va ngoài trường học tham gia. Vấn đề được thảo luận ở diễn đàn bao gồm HIV/AIDS, kỹ năng sống, sự tham gia của trẻ em, ý kiến của trẻ em về tương lai của Việt Nam, giáo dục, v.v.Trẻ em cũng tham gia vào việc đóng góp ý kiến về báo cáo dự thảo của Chính phủ Việt Nam về CRC, và về sửa đổi Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em.
2.4. Những việc đã làm
Như đã được quy định trọng Bộ Luật Hình sự (Điều 105), một số hành vi như cố ý gây thương tích, ép buộc quan hệ tình dục, hiếp dâm, chỉ được truy tố khi có yêu cầu của nạn nhân (hoặc người đại diện hợp pháp cho nạn nhân trong trường hợp nạn nhân là người chưa thành niên hay bị khuyết tật về thân thể hoặc tâm trí). Quá trình giải quyết những tội phạm nguy hiểm về làm dụng trẻ em thông qua hoà giải và bồi thường hiện vẫn đang còn tranh luận.
Mặc dù pháp Luật Việt Nam cho phép trẻ em (là nạn nhân hay thủ phạm) có quyền tham gia vào các quy trình tố tụng hình sự và có quyền trình bày ý kiến và quan điểm của mình, bản thân quá trình tố tụng cũng chưa được điều chỉnh một cách phù hơp để tạo điều kiện cho các em hưởng quyền này đầy đủ và hiệu quả.
Trong các luật hành chính cũng chưa có điều khoản nào thúc đẩy sự tham gia của trẻ em phạm pháp vào quá trình đưa ra quyết định, ngay cả đối với những biện pháp phòng ngừa và chế tài phù hợp nhất được áp dụng cho các trẻ em. Theo luật, Công an không có nghĩa vụ thông báo cho người chưa thành niên vi phạm hành chính về hậu quả của những hành vi vi phạm pháp luật của họ. Chính việc không cung cấp thông tin như vậy sẽ hạn chế khả năng hưởng quyền được tham gia và tự bảo vệ mình của trẻ em. Hiện chưa có các điều khoản bắt buộc quy định rằng các cơ quan công an, viện kiểm sát và toà án sẽ chỉ định luật sư cho nạn nhân, mà việc đó chỉ được áp dụng với thủ phạm là trẻ em. Mặc dù nạn nhân là trẻ em có quyền được có luật sư bảo vệ quyền và lợi ích của mình ở tất cả các giai đoạn trong quá trình tố tụng hình sự, hỗ trợ kinh phí pháp lý của nhà nước hiện chỉ dành cho người phạm pháp chưa thành niên mà không phải cho nạn nhân. Tuy nhiên, trên thực tế ở một số thành phố (VD thành phố Hồ Chí Minh) có trung tâm tư vấn pháp lý miễn phí cho cả nạn nhân trẻ em và bị đơn là người chưa thành niên.
Trong 5 năm qua, sự tham gia của trẻ em đã được nhận diện ở nhiều nơi trên cả nước. Đã có những nỗ lực lớn đặc biệt là thông qua các dự án phát triển nhằm giúp thực hiện quyền được tham gia cho trẻ em nhằm có sự tham gia thực chất và mức độ tham gia cao nhất, trẻ em đã được người lớn hỗ trợ để thành lập các câu lạc bộ và điễn đàn của mình, tự tổ chức các hội thảo. Các sáng kiến này đa dạng về nội dung và tính toàn diện, từ sự tham gia của trẻ em trong các hoạt động thể chất đến việc các em bày tỏ ý kiến và lựa chọn trong các vấn đề có ảnh tới cuộc sống của mình và của những người khác hoặc của gia đình hoặc cộng đồng. Ví dụ về những hoạt động này bao gồm thành lập các câu lạc bộ trẻ em, các diễn đàn, hay tổ chức các cuộc thi là nơi để trẻ em phát triển kỹ năng lãnh đạo vào tạo điều kiện cho sự tham gia, thực hiện các nghiên cứu có sự tham gia của trẻ em về các vấn đề của trẻ em, xây dựng năng lực cho giáo viên và trẻ em, tham khảo ý kiến của trẻ về các vấn đề vĩ mô v.v.
Tập huấn về sự tham gia của trẻ em tại các tỉnh chủ chốt đã được Trung ương Đoàn (TWĐ) và các đối tác tổ chức dựa trên tài liệu họ xây dựng. Đây là tài liệu toàn diện đầu tiên về sự tham gia của trẻ. Cả nước hiện có khoảng 17.000 câu lạc bộ “Quyền trẻ em” và 44 câu lạc bộ “phóng viên nhỏ” tại 22 tỉnh/thành với số thành viên chính thức là 2.500. Tuy nhiên, nhiều em còn thiếu kỹ năng điều hành câu lạc bộ của mình. Nhiều câu lạc bộ đề ra tiêu chí gia nhập và cố định số lượng thành viên, nên đã xảy ra hiện tượng có những em không muốn tham gia nhưng không được do không đáp ứng được các điều kiện trên. Một vấn đề nữa là nhiều học sinh lớp 3 buộc phải tham gia tổ chức Đội ngay cả khi các em không muốn tham gia do việc này nhằm đảm bảo lớp đạt được thành tích về sự tham gia của trẻ em vào các phong trào xã hội. Phần lớn các sáng kiến và hoạt động thúc đẩy sự tham gia của trẻ em được chính phủ phối hợp thực hiện với các cơ quan Liên hợp quốc như UNICEF và UNESCO và các tổ chức NGO quốc tế.
Một số luật đã được ban hành và sửa đổi nhằm tạo điều kiện cho trẻ em có tiếng nói hợp pháp trong nhiều vấn đền ảnh hưởng đến cuộc sống của các em. Quyền được tham gia của trẻ em đã được quy định trọng Bộ luật tố tụng dân sự (năm 2004), bao gồm quyền được bày tỏ ý kiến trong việc đưa ra quyết định đối với những tài sản chung của gia đình (điều 109), thay đổi tên (điều 27), và trong việc xãc định quốc tịch (điều 28 và 30), cũng như liên quan đến ảnh (điều 31) và sự riêng tư (điều 38). Trẻ em Việt Nam cũng có quyền được tham khảo ý kiến về việc nhận con nuôi, theo điều 92 và 93 của Luật hôn nhân và Gia đình (năm 2000). Pháp lệnh về người tàn tật (1998) đã nêu bật nhu cầu cần đào tạo điều kiện cho sự tham gia của người khuyết tật trong các hoạt động xã hội, các sự kiện văn hoá, thể thao và giải trí và các tổ chức xã hội (điều 5 và điều 24). Thêm vào đó, quyền được bày tỏ ý kiến của mình trong các quy trình tố tụng đã được đề cập trong Điều 57 của Bộ luật tố tụng hình sự (năm 2003), dành hẳn Chương XXXII về các thủ tục đặc biệt cho người chưa thành niên vi phạm pháp luật. Luật Khiếu nại và Tố cáo (năm 2005) nêu tất cả các công dân, trong đó có trẻ em, có quyền được khiếu nại và tố cáo bất kể hành vi phi pháp nào. Hơn nữa, Pháp lệnh sử phạt hành chính (năm 2002) cũng nêu rằng người chưa thành niên có quyền khiếu nại đối với những quyết định về xử
phạt hành chính đối với vi phạm của họ. Những nội dung tiến bộ về luật pháp này đã tạo một dấu ấn mạnh mẽ về đường lối mà Chính phủ Việt Nam hướng tới đồng thời cũng chỉ ra những hành vi nào là được khuyến khích và thúc đẩy. Một phản ứng quan trọng đối với việc thực hiện quyền trẻ em nói chung và quyền tham gia của trẻ em trong gia đình, nhà trường và cộng đồng nói riêng là việc ban hành Quyết định 03/2004/DSGĐTE, ngày 01 tháng 6 năm 2004 của Chủ nhiệm Uỷ Ban dân số gia đình và trẻ em liên quan đến tiêu chuẩn cộng đồng thân thiện với trẻ em trong cả nước.
Tuy nhiên, các điều khoản về sự tham gia của trẻ em trong các luật, chính sách chính trong nước thì vẫn còn rải rác và không phải lúc nào cũng cung cấp đủ hướng dẫn để có thể thực thi tốt. Ví dụ, các quy định về sự tham gia của người chưa thành niên trong các thủ tục hình sự và dân sự và các thủ tục khiếu nại và tố cáo vẫn còn không có các chỉ dẫn cụ thể. Những điều khoản pháp lý đảm bảo sự tham gia của trẻ em trong các quy trình dân sự ảnh hưởng đến quyền và sự an sinh của các em, như trường hợp xử thừa kế hoặc ly hôn, vẫn còn rải rác trong các văn bản luật và dưới luật có liên quan khác nhau, ví dụ như Bộ luật dân sự (2004) và Luật hôn nhân và gia đình (2000), hoặc các pháp lệnh và nghị định khác. Do đó, nhiều luật sư, thẩm phán trong, một số trường hợp, cha mẹ và người giám hộ chịu trách nhiệm về pháp lý cho đứa trẻ đã không kết nối được những điều khoản này với nhau một cách hiệu quả nhằm thực thi quyền tham gia của trẻ em. Các thủ tục xét xử và hành chính không phải lúc này cũng quan tâm đến ý kiến của trẻ em. Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em (2004) đã nêu: Nhà nước “có trách nhiệm lắng nghe và giải quyết các nguyện vọng chính đáng của trẻ em” mà không quy định rằng trẻ em cần được tham khảo ý kiến trong các quy trình biện hộ hoặc làm rõ thế nào là nguyện vọng “chính đáng”.
Lãnh đạo các câp chính quyền ở nhiều nơi trong cả nước hiện đã quan tâm đến quyền tham gia của trẻ em. Đại diện trẻ em có mặt tại một số phiên họp của Quốc hội và đã có những cuộc nói chuyện với Chủ nhiệm Quốc hôi, Thủ tướng Chính phủ và Tổng Bí thư Đảng cộng sản. Tại một số nơi, trẻ em còn được mời đi thăm quan Hội đồng nhân dân các cấp và nói chuyện với các đại biểu dân cử. Một số xã vùng nông thông và ngoại ô cũng tổ chức diễn đàn “Lắng nghe tiếng nói của Trẻ em”. Quan trọng nhất là, ý kiến của trẻ em đã đựơc tìm hiểu và được phản ánh trong một số văn bản quan trọng của chính phủ, trong đó có Báo cáo Quốc gia trình Uỷ ban Quyền trẻ em.
Mặc dù có một số thành công trong việc xây dựng khung pháp lý và thực hiện nhiều hoạt động có sự tham gia tầm cỡ, vẫn còn có những thách thức trong việc thực hiện quyền tham gia cho tất cả trẻ em. Nhìn chung, những sáng kiến, mô hình và hoạt động hiện nay nhằm thu hút trẻ em tham gia được thực hiện chưa thường xuyên và không có tầm nhìn mang tính chiến lược hoặc không được thể hiện trong một khuôn khổ tổng thể quốc gia. Hiện còn thiếu cơ chế hiệu quả và rõ ràng để thể chế hoá sự tham gia của trẻ em trong những vấn đề ảnh hưởng đến các em và để theo dõi một cách có hệ thống sự tham gia của trẻ em. Các hình thức và phương thức tham gia của trẻ em hiện chưa đa dạng và có xu hướng mang tính chiếu lệ hoặc là sự tham gia tượng trưng. Trong một số trường hợp, chỉ có một nhóm nhỏ trẻ em thực sự cso cơ hội tham gia. Vẫn còn thiếu các chuẩn mực và hướng dẫn về sự tham gia của trẻ em, trong đó có các hướng dẫn về việc lựa chọn trẻ em và thanh thiếu niên ở các địa bàn xã hội khác nhau và có được sự đồng ý trên cơ sở được cung cấp đầy đủ thông tin cho sự tham gia của các em.
3. Nguyên nhân hạn chế
Cho đến thời điểm hiện nay, ngay trong các tổ chức trong nước và quốc tế việc về trẻ em không có một phòng ban cụ thể hoặc cán bộ chuyên trách về sự tham gia của trẻ. Xã hội dân sự yếu kém, thiếu các cơ quan tiên phong trong việc thúc đẩy cách tiếp cận đổi mới về sự tham gia của trẻ em cũng là những hạn chế nhất định. Hiện thiếu trầm trọng các nghiên cứu và tranh luận cởi mở về tính cần thiết và phạm vi thực tiễn của sự tham gia để có những cuộc đối thoại mang tính xây dựng.
Kinh nghiệm và kiến thức về quyền tham gia trong bối cảnh chính trị, văn hoá và xã hội Việt Nam, cũng như cách thức để thúc đẩy quyền tham gia này phù hợp với các vùng miền, điều kiện địa phương và văn hóa khác nhau hiện còn thiếu. Các nghiên cứu chuyên sâu về sự khác biệt văn hoá giữa các vùng miền và thành phần dân tộc liên quan đến văn hoá tham gia cũng còn rất hạn chế. Hơn nữa, còn thiếu nghiên cứu toàn diện về việc thực hiện hoặc không thực hiện được quyền tham gia của trẻ em và về mối quan hệ giữa căng thẳng trong giao tiếp (giữa cha mẹ-con cái) với sức khoẻ tâm trí của trẻ em.
Bên cạnh các vấn đề về năng lực như đã đề cập ở trên, hiện còn thiếu đội ngũ giảng viên, giáo viên, chuyên gia nghiên cứu, cán bộ làm công tác phong trào và các nhà làm chính sách ở các cấp khác nhau có năng lực chuyên môn và kinh nghiệm về trẻ em, cũng như các kỹ năng tương tác và cùng tham gia khi làm việc với các nhóm trẻ em khác nhau từ những địa bàn khác nhau. Nhận thức và hiểu biết của các nhà hoạch định chính sách, giáo viên, người điều hành, cha me và bản thân trẻ em về quyền đựơc tham gia của trẻ em còn hạn chế. Nhiều cơ quan không biết, thậm chí nếu họ biết (trong trường hợp họ được học những nguyên tắc cơ bản liên quan đến sự tham gia của trẻ em), họ vẫn không áp dụng tất cả những nguyên tắc cơ bản liên quan đến quyền tham gia của trẻ em (như đã đề cập ở trên).Không phải lúc nào trẻ cũng được hỏi ý kiến về việc các em có đồng ý tham gia nghiên cứu hay không, không phải lúc nào trẻ em cũng được giải thích đầy đủ vì sao các em được phỏng vấn và do đó có những nguyện vọng của các em khó được đáp ứng đầy đủ.
Hiện còn thiếu không gian cho các hoạt động cùng tham gia. Các cơ sở về công nghệ thông tin chưa tiếp cận được và hạn chế trong việc sử dụng thành thạo tiếng Anh cũng là một rào cản khác đối với nhiều trẻ em Việt Nam khi thảo luận các vấn đề ở phạm vi toàn cầu tại các diễn đàn hữu ích trên mạng, ví dụ như diễn đàn của UNICEF về “Tiếng nói của Thanh thiếu niên”. Mặc khác, khả năng tiếp cận với các trang thiết bị công nghệ thông tin cũng làm rộng thêm “khoảng cách số” giữa những trẻ em thành thị và nông thôn, đặc biệt là nhữg trẻ em dân tộc thiểu số. Công nghệ đóng vai trò quan trọng, nhưng không phải là cách duy nhất để thúc đẩy sự tham gia của trẻ em trong bối cảnh chính trị và phát triển
Những tài liệu tham khảo phù hợp cha ngắn gọn, nhạy cảm về văn hoá và có minh hoạ cho học sinh, giáo viên và các nhân viên là người dân tộc thiểu số bằng ngôn ngữ riêng của họ hiện chưa có sẵn. Cách tiếp cận dạy mang tính mô phạm đã tồn tại từ lâu nay, áp lực thành tích đã tạo môi trường không thuận lợi cho việc thúc đẩy sự tham gia tích cực của trẻ em vào ngành giáo dục.
Việc thực hiện đầy đủ quyền tham gia của trẻ em đòi hỏi người lớn phải không tiếp tục xây dựng và thay đổi mối quan hệ quyền lực của họ đối với trẻ em, điều này dường như sẽ không xảy ra. Trình độ học vấn thấp của nhiều chủ thể có trách nhiệm, trong đó có cha mẹ, người chăm sóc và các nhân viên ở các khu vực miến núi và nông thôn, cho thấy là một thách thức quan trọng. Nhu cầu cần phải cung cấp kiến thức và kỹ năng cần thiết cho cha mẹ, đặc biệt là bậc cha mẹ trẻ tuổi vẫn chưa được quan tâm đầy đủ.
Tình hình hiện tại cho thấy nhận thức và năng lực về sự tham gia của trẻ em còn rất hạn chế đối với toàn bộ các chủ thể chịu trách nhiệm bao gồm cả luật sư, cha mẹ hoặc người giám hộ, các cơ quan an sinh và các tổ chức đoàn thể là những chủ thể chịu trách nhiệm đối với trẻ em trong việc đảm bảo rằng các em được tham khảo ý kiến một cách đúng đắn trong các quy trình thủ tục hình sự, hành chính và dân sự.
Có một số ít chương trình và tài liệu giáo dục phù hợp để cải thiện kỹ năng của cha mẹ liên quan đến quyền tham gia của trẻ. Vẫn còn thiếu các kênh tạo điều kiện cho trẻ em thể hiện bản thân mình ở gia đình, mặc dù thông tin về quyền tham gia của trẻ em đã được nhà trường và một số tổ chức đoàn thể phổ biến.
Trong bối cảnh nhà trường, những chủ thể chịu trách nhiệm chính là Bộ GD&ĐT, giáo viên, nhà quản lý và cán bộ phụ trách công tác đoàn đội. Bộ GD&ĐT đã có nỗ lực lớn trong việc cải thiện phương pháp dạy học nhưng vẫn gặp phải rào cản về phương diện cơ sở vật chất, hướng dẫn, giám sát, cũng như cung cấp hỗ trợ tiếp theo. Nhiều giáo viên hiện vẫn chưa được đào tạo đầy đủ về các phương pháp cùng tham gia và tương tác. Bên cạnh trường học, Hội phụ nữ, Đoàn thành niên và cán bộ LĐTB&XH ở các cấp khác nhau đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao nhận thức của người dân về sự tham gia như một phần trong việc thúc đẩy quyền trẻ em. Các hoạt động nâng cao nhận thức chủ yếu nhằm vào đối tượng học sinh, hơn là các nhà quản lý trường học và giáo viên.
Các dự án do nước ngoài tài trợ về sự tham gia của trẻ em nhìn chung còn hạn chế về phạm vi và quy mô. Những hạn chế trong việc tài liệu hoá cũng như đánh giá tác động các sáng kiến có sự tham gia của trẻ em hiện đang là mối quan tâm về công tác vận động chính sách, lập kế hoạch, giám sát, theo dõi, cũng như tính bền vững của các dự án/hoạt động này ở cấp cơ sở. Lý do chung được nêu ra đối với những cản trở về mặt thể chế này là thiếu nguồn lực và năng lực chuyên môn, mặc dù các cấp đều có thiện chí và cam kết thực hiện.
Tóm lại: Trong 4 nhóm quyền của trẻ em, nhóm quyền tham gia được hiểu và ghi nhận ít nhất. Mặc dù các hoạt động trong thời gian qua đã cố gắng thúc đẩy quyền trẻ em ở các cấp nhưng phần lớn các hoạt động/chương trình giáo dục và nâng cao nhận thức chỉ đề cập đến quyền trẻ em một cách chung chung, mà không nhằm vào quyền tham gia của trẻ em một cách cụ thể
4. Các vấn đề nảy sinh
Tiếp cận với Internet ngày càng tăng ở các khu vục thành thị đã tạo thuận lợi và cả bất lợi cho việc thực hiện quyền tham gia của trẻ em. Một mặt, các nhật ký trên mạng tạo một kênh khác cho trẻ thể hiện quan điểm của mình về những vấn đề khác nhau. Tuy nhiên, một số trẻ em do thiếu sự giám sát của cha mẹ nên dành nhiều thời gian vào mạng Internet ở nhà và tại các quán cà phê, do đó sẽ gặp phải những nguy cơ bị lạm dụng dưới các hình thức khác nhau, trong đó có lạm dụng tình dục qua mạng.
Khi nền kinh tế của đất nước phát triển và hội nhập toàn cầu gia tăng, quy mô gia đình ở Việt Nam ngày càng thu nhỏ hơn. Môi trường gia đình đang thay đổi, với sự khác nhau về qua điểm giữa vị thành niên, cha mẹ và ông bà trở nên rõ hơn (khoảng cách thế hệ). Giá trị văn hoá tồn tại lâu dài có thể sẽ bị mất đi và sẽ có những giá trị mới. Điều này đang thay đổi các điều kiện mà ở đó có sự tham gia của trẻ em trong gia đình.
Áp lực mong muốn/khả năng của trẻ em và kỳ vọng thành tích học tập cao của cha mẹ sẽ có khả năng gia tăng khi Việt Nam phát triển hơn. Áp lực đè nặng trẻ có thể dẫn đến trầm cảm và chán nản, muốn thoát ly, sử dụng ma tuý và rượu và những hành vi tự huỷ hoại bản thân khác.
5. Khuyến nghị
- Cần phải có cơ chế để lồng ghép và thể chế hoá sự tham gia của trẻ em.
Lồng ghép ngay từ các văn bản chiến lược cần bao gồm các lĩnh vực chính trị, kinh tế, luật pháp và xã hội cũng như các khía cạnh tham gia của trẻ em, trong đó có tiếp cận với thông tin, bày tỏ ý kiến và quan điểm trước cộng đồng và trong ảnh hưởng các quyết định chính sách …chương trình lập kế hoạch cho trẻ em với những mục tiêu và hành động cụ thể.
- Cần xây dựng Những tiêu chuẩn và định hướng cụ thể về sự tham gia của trẻ em. Ví dụ, hướng dẫn lựa chọn trẻ em và thanh thiếu niên từ các địa bàn xã hội khác nhau để đảm bảo các cơ hội tham gia bình đẳng và rộng cho tất cả các em.
- Phương pháp thu hút sự tham gia của trẻ em nên đa dạng và có sự gắn kết giữa các cơ quan tham gia. Các phương pháp áp dụng nên được xem xét thận trọng trước khi có sự tham gia của trẻ em vào một hoạt động cụ thể.
- Cần tổ chức các chương trình tập huấn về kỹ năng và các nguyên tắc cơ bản về quyền tham gia của trẻ em cho các cán bộ chính phủ, NGO, cơ quan LHQ làm việc với trẻ em. Tập huấn nên bao gồm các nguyên tắc tham gia cơ bản cho trẻ em và thanh thiếu niên cũng cần được tập huấn để khởi xướng, lập kế hoạch, thực hiện và đánh giá các hoạt động tham gia của mình.
- Cần tiếp tục tập huấn cho trẻ em và thanh thiếu niên về sự tham gia, sử dụng phương pháp chuẩn hoá với các mục tiêu SMART (Cụ thể, tính toán được, có thể đạt được, phù hợp, có thời hạn hoàn thành) và các nhóm đối tượng rõ ràng. Trẻ em và thanh thiếu niên cũng cần được tập huấn để khởi xướng, lập kế hoạch, thực hiện và đánh giá các hoạt động tham gia của mình.
- Cần có nhiều nghiên cứu hơn về sự tham gia của trẻ em để hiểu những thay đổi đang diễn ra và chiến lược cần có để thực hiện quyền này một cách có hệ thống hơn và nhất quán hơn cho mọi trẻ em ở Việt Nam./.