Giáo sư Hoàng Ngọc Hiến có phân biệt chủ nghĩa cá nhân đạo đức và chủ nghĩa cá nhân văn hóa,có người gọi là cá nhân luận văn hoá.. Nếu là chủ nghĩa cá nhân văn hoá thì đấy là một chủ nghĩa cá nhân có hàm lượng Minh triết và Triết học cao nhất. Xin ông bình luận ý kiến này?
GS François Jullien: Có nhiều sự phát triển theo những khía cạnh khác.nhau Còn để sự phát triển cá nhân có một hàm lượng triết lý thì phải đi tìm triết lý ấy. Xung quanh vấn đề này, ở phương Tây người ta lược quy Minh triết vào tri thức. Một khi Minh triết bị lược quy vào tri thức thì còn vấn đề tri thức chứ không còn vấn đề Minh triết nữa. Mà vấn đề tri thức thì trong Triết học cổ đại Hy Lạp, người quan tâm thực sự là Aristotle. Câu mở đầu cho thuyết siêu hình học của ông ấy là: "mọi người đều có ham muốn hiểu biết". Nhưng trong hiểu biết thì có nhiều cấp độ khác nhau, có hiểu biết thuần tuý, có hiểu biết tư biện... Vấn đề hiểu biết có được đặt ra trong danh ngôn của Khổng Tử. Khổng Tử có nói đến vấn đề biết, rồi sau đó mới nói đến vấn đề yêu, sau đó có nói đến vấn đề tìm thấy niềm vui. Có một trình tự như vậy. Biết là ở dưới yêu, còn yêu thì lại dưới tìm thấy niềm vui. Tức là tư tưởng của phương Đông có thấy lấp ló những vấn đề tri thức nhưng sau đó lại rẽ sang lĩnh vực khác. Vấn đề lấp ló thấy tri thức không được đẩy tới một bước nữa tức là chỉ nói "biết" chứ không xác định đối tượng của nó. Bước một là biết nhưng không xác định đối tượng của cái biết là gì, mà chỉ khi xác định được đối tượng của cái biết thì mới có sự phát triển của tri thức. Ngược lại, ở Hy Lạp, khi nói đến vấn đề biết thì bao giờ người ta cũng xác định đối tượng của cái biết: biết cái gì, chẳng hạn khi nói đến yêu thì người ta bao giờ cũng xác định yêu cái gì.
Sự phát triển tri thức ở Hy Lạp và ở phương Đông có điều này cần lưu ý, cần phân biệt, đó là cần phân biệt cái hương vị của sự vật và tri thức về sự vật. Ở phương Đông, người ta quan tâm đến hương vị của sự vật mà chưa động đến cái gọi là tri thức về sự vật. Với mức độ phát triển như thế cho nên tôi mới nói rằng phương Đông lấp ló vấn đề tri thức nhưng không đi đến cùng mà nó rẽ sang con đường khác. Phương Đông dừng lại ở hương vị của sự vật chứ chưa đi tới tri thức về sự vật.
Quay trở lại về những điều trong Triết học Hy Lạp mà những nhà nghiên cứu Triết học phương Tây cho rằng đương nhiên là như vậy, nên họ không nghĩ về cái đương nhiên đó. Trong học thuật có chuyện ấy, có nhiều điều mình thấy là đương nhiên nên mình không nghĩ nữa. Tôi đã sang Trung Quốc, đọc tư tưởng và văn hoá Trung Quốc thì tôi có được một chỗ đứng từ bên ngoài và từ chỗ đứng bên ngoài này, nhìn lại phương Tây, tôi thấy có nhiều cái phương Tây tưởng là đương nhiên nhưng thực ra không phải đương nhiên. Điều đó làm tôi bắt đầu suy nghĩ về những cái mình cho là đương nhiên, hoá ra nó không nằm ở một đường rãnh không dược tư duy, không được nghĩ đến.. Có nhiều điều ở trạng thái không được nghĩ vì bình thường nó được coi là đương nhiên rồi. Nhưng thực ra nó không hề đương nhiên. Trong cuốn Siêu hình học của Aristotle, ông ấy nói rằng tri giác, cảm giác không phải là tri thức, không có tri thức trong cảm giác. Những câu ấy tôi thấy là đương nhiên, không có gì phải suy nghĩ, nhưng chưa một học giả nào ở phương Tây để ý đến câu ấy, thực ra nó là câu có vấn đề. Vòng qua Phương Đông, đọc sách của Trung Hoa cổ thì tôi thấy cái phương Tây gọi là cảm giác thì ở phương Đông nó là hương vị, rất quan trọng. Trước đây tôi không ngạc nhiên về câu của Aristotle, nhưng đến bây giờ thì thấy không hiểu tại sao ông ấy lại nói thế trong khi phương Đông đánh giá rất cao hương vị như vậy? Phương Đông rất quan tâm đến hương vị cũng như cảm giác. Khổng Tử nói: "Những người giỏi thì lại biết quá nhiều, còn người ngu thì chưa tới, rất hiếm người nắm bắt được hương vị". Đấy cũng là một ví dụ để qua đó, tôi nghiệm lại câu của Aristotle. Như vậy, chúng tôi làm được một danh sách những điểm để thấy rằng Triết học một khi đã tách khỏi Minh triết thì mất đi rất nhiều. Triết học phương Tây có những khái niệm chủ mà nó rất quan tâm như: tự do, chân lý. Nhưng Minh triết phương Đông thì không quan tâm đến khái niệm chủ này mà lại quan tâm đến những phạm trù khác như là hương vị của sự vật và tính “linh chuyển” hoạc “tính linh động” (Pháp: disponibilité) của ý thức con người.
Phương Tây khi đưa ra một luận điểm nào đó thì thường khẳng định, còn phương Đông thì không khẳng định mà lại mở ra một cách nhìn của mình, một quan điểm của mình. Chỉ mở ra thôi, từ cách mở ra này thì có nhiều cách tiếp nhận, chứ không có một ý cố định nào. Ví dụ về khái niệm trung dung, phương Tây hiểu khác phương Đông. Phương Tây nói trung dung là ở tâm điểm, ở giữa, một khi đã ở giữa thì không phải cái này, không phải cái kia, không nóng, không lạnh.... Phương Đông lại hiểu trung dung là có thể thiên về cực này, mà cũng có thể thiên về cực kia. Đấy cũng là một điểm mà khi so sánh giữa phương Đông và phương Tây, tôi thấy được sự khác nhau như thế nào. Triết học phương Tây quan tâm sự nhìn, sự tri giác, từ cái nhìn này sinh ra nhiều khái niệm: viễn cảnh, hình học... Còn phương Đông quan tâm đến sự thở, thở ra, hít vào, tiết tấu này là một cơ sở để từ đó, nảy sinh ra những tư duy Minh triết.của họ...
Tóm lại, về Minh triết thì tôi cho rằng nó là hạ tầng của Triết học. Nhiệm vụ xây dựng Minh triết hiện nay là phải tạo ra những khái niệm cho mình, dùng những khái niệm đó để suy nghĩ những vấn đề mà Triết học bỏ rơi hay Triết học chưa nắm bắt được. Về vấn đề thở thì Minh triết phải tìm ra những khái niệm để diễn đạt, đào sâu hoạt động thở, tìm ra kết cấu của nó và tạo ra những khái niệm. Như vậy, Minh triết phải tạo cho mình những khái niệm.
Ở đây, có một vấn đề nữa là Minh triết phải xác định quan hệ của nó với chính trị. Tôi lấy ví dụ về nguồn gốc của Triết học Hy Lạp. Sự ra đời của Triết học ở Hy Lạp có liên quan mật thiết với sự ra đời của thành bang. Thành bang Hy Lạp có đời sống chính trị của nó, có nền dân chủ của nó. Đặc điểm của thành bang là hay tranh luận. Chúng ta biết thành bang Hy Lạp có quốc hội, có toà án, có quảng trường. Ở quảng trường, ở hội trường của quốc hội người ta tranh cãi nhau, người ta đối đầu nhau bằng ngôn ngữ, cái sinh hoạt ấy của thành bang phản ánh thông qua Triết học ở nếp thao tác tư duy triết học là đưa ra Đề (these)rồi Phản đề (anithese)... Nếp tư duy này mô phỏng đời sống chính trị của thành bang. Bây giờ, Minh triết cũng phải quan tâm đến mối liên hệ với chính trị, tức là tạo cho nó một cái gì đấy của nó.
Còn Minh triết ở Trung Quốc trong quan hệ với chính trị thì như thế nào? Trong quan hệ với chính trị, Minh triết ở Trung Hoa cổ không có một lập trường xác định. Tuy bên trong là ngay thẳng nhưng bên ngoài đối với chính quyền thì mềm dẻo, từ mềm dẻo đi đến chỗ luồn cúi, không có lập trường. Do kết cấu không có lập trường nhất định, khi thế này, khi thế nọ nên những nho sĩ Trung Quốc không bao giờ là trí thức, không phải là trí thức. Trí thức phải có lập trường. Lập trường là thế nào? Tức là mình phải có quan điểm của mình. Vấn đề đó rất quan trọng, nhất là để hiểu những nhà Minh triết Trung Quốc cổ như thế nào và nó ảnh hưởng đến trí thức Trung Quốc hiện nay như thế nào.
Minh triết hiện nay phải khắc phục hai nhược điểm có từ xưa, một là không tư duy bằng khái niệm thì bây giờ Minh triết phải có khái niệm. Thứ hai là về chính trị không rõ ràng thì bây giờ phải rõ ràng đối với chính trị. Minh triết ở giai đoạn này phải đưa tư tưởng vào công trường của mình để làm ra những khái niệm.. Đấy là đề nghị của tôi đối với công việc của Minh triết.
Ông Nguyễn Khắc Mai: Có một nhà nghiên cứu của Anh nói rằng sở dĩ có một khuynh hướng phục hưng Minh triết ở phương Tây hiện nay là vì cá nhân ở đấy thất vọng vì nhiều điểm, trong đó có hai thất vọng lớn: một là nhiều hệ thống xã hội sụp đổ, những hệ thống như nhà nước phúc lợi, rồi những cuộc chiến khủng bố; hai là nó thấy nhiều khuynh hướng hay nhiều hệ thống triết lý tư tưởng cũng phá sản, ví dụ như chủ nghĩa hiện sinh cũng không giải đáp được gì, chủ nghĩa Marx cũng đang khủng hoảng, nhiều trào lưu tư tưởng khác cũng vậy. Vì thế họ có khuynh hướng đi tìm Minh triết trong lối sống, đảm bảo sự nhân ái, tiết kiệm, sống gần với thiên nhiên, hoà đồng, chăm lo lẫn nhau, tìm tới khuynh hướng hướng thượng về trí tuệ, về kiến thức và họ khẳng định sự thông thái là tầng cao nhất của năng lực trí tuệ của con người. Người ta kiếm tìm sự thông thái ở đâu? Ở trong các triết gia, ở trong các nhà tôn giáo, ở trong các nhà chính trị. Người ta còn cho rằng phải có nhiều Minh triết hơn nữa trong quản lý chứ không phải chỉ có kiến thức. Cách suy nghĩ như vậy phải chăng cho thấy sự phục hồi của Minh triết?
GS François Jullien: Phương Tây hiện nay có một sự quan tâm lớn hơn về "Minh triết" và lý do là vì sự sụp đổ của một số hệ tư tưởng. Nhưng tôi nghĩ rằng sự trở lại Minh triết hiện nay không phải là với lý do chính đáng. Trở về với Minh triết có thể có những lý do đúng, chẳng hạn trở về những vấn đề mà Triết học bỏ quên hay bỏ dở, ví dụ vấn đề thở, hoặc vấn đề hương vị của sự vật và cảm giác cũng là vấn đề mà phương Tây không để ý. Nếu quan tâm đến những vấn đề mà Triết học bỏ dở hoặc tôn giáo bỏ lại thì đấy là lý do đúng.
Có một lý do không chính đáng dẫn đến việc quay trở lại Minh triết ở phương Tây hiện nay, đấy là tình trạng mất lý tưởng, con người bỏ rơi lý tưởng, xa rời lý tưởng. Người ta không tin vào sự cứu rỗi, không tin vào lý tưởng chính trị có thể cứu vãn, ngay cả lý tưởng trong khoa học người ta cũng không quan tâm. Người ta quan tâm đến những vấn đề thực dụng hơn, kiếm được nhiều tiền hơn. Lý do không chính đáng thứ hai là trong tình hình mất lý tưởng như vậy, cá nhân thu lợi cho bản thân mình, quan tâm đến những vấn đề của mình, chỉ lo cho mình. Đấy cũng là một lý do không hay của việc trở về Minh triết. Lý do thứ ba là ảo tưởng về phương Đông. Thực ra, phương Tây chỉ biết phương Đông qua những cuốn sách về thương mại của phương Tây, họ có những huyễn tưởng về phương Đông. Với những huyễn tưởng phương Đông, họ tưởng tìm ra Minh triết, nhưng không phải thế. Người ta nghĩ phương Đông là mặt trái của phương Tây, bây giờ phương Tây gặp nhiều vấn đề lủng củng thì họ tìm đến mặt trái của nó để may ra tìm được cái gì hay hơn, tốt hơn. Họ tìm cái phi lý của phương Đông để đối lại với cái khủng hoảng duy lý của phương Tây hiện nay. Họ cho rằng phương Đông là phi lý, không có tính hiệu quả, nhưng tôi thấy rằng phương Đông là duy lý, theo cách của nó. Phương Tây có những vấn đề của nó, vấn đề mâu thuẫn giữa tự do và quyết định luận. Họ tưởng rằng tìm tới phương Đông là tìm những lời giải đáp cho vấn đề này, nhưng ở phương Đông không hề đặt ra vấn đề mâu thuẫn giữa tự do và quyết định luận, chưa từng đặt ra và sẽ không đặt ra. Phương Đông không quan tâm vấn đề này.
Ông Nguyễn Hưng (Trung tâm Minh triết Việt): Trong thế giới phẳng hiện nay có hai vấn đề đặt ra: Thứ nhất là phải phát triển trong đa dạng nhưng có tính phổ quát, thứ hai là xác định động lực của sự phát triển là gì. Chúng tôi đọc Hegel thì thấy rằng sự mâu thuẫn, sự đấu tranh giữa các mặt đối lập là động lực cho sự phát triển. Gắn với suy nghĩ của phương Đông thì chúng ta thấy rằng thuyết tiến hoá của Darwin không chỉ có trong sinh học mà trong cả xã hội học, kinh tế học... Minh triết phương Đông cũng có quan tâm đến động lực tiến hoá. Theo ông, động lực tiến hoá hiện nay có còn là đấu tranh sinh tồn?
GS François Jullien: Về vấn đề đa dạng và phổ quát. Cái phổ quát không phải là cái có sẵn, nó là công việc của trí tuệ, và bằng công việc trí tuệ dần dần tìm ra cái phổ quát. Chính cái đầu mình phải làm việc để tìm ra được cái phổ quát, đấy là cái thứ nhất. Thứ hai là trong toàn cầu hoá, khái niệm phổ quát có nguy cơ được thay thế bằng khái niệm đồng dạng đơn điệu.(Pháp:uniforme) Trong toàn cầu hoá dễ có việc lầm tưởng đồng dạng là phổ quát, nhưng không phải như vậy. Một mặt chúng ta phải lo tạo ra sự đa dạng của cuộc sống vì nó rất cần, rất quan trọng, nhưng trong lúc tạo ra sự đa dạng của cuộc sống, chúng ta phải coi chừng toàn cầu hoá mang lại sự đồng dạng hoá cuộc sống, đấy cũng là một sự đe dọa đối với sự đa dạng của đời sống.
Tôi cũng cho rằng mâu thuẫn là động lực của sự phát triển, và còn là động lực của tư tưởng, nhưng cái cứu cánh cuối cùng mà sự phát triển đi đến sự hiểu biết tuyệt đối thì tôi không tán thành. Minh triết phương Đông thường coi trọng cái hài hoà, nhưng để cái hài hoà nó che lấp cái mâu thuẫn thì vẫn còn mâu thuẫn. Vấn đề là dung hoà mâu thuẫn và hài hoà, bởi vì hài hoà là giải quyết mâu thuẫn nhưng tránh mâu thuẫn để tạo ra sự hài hoà nào đó thì hài hoà giả tạo. Trở lại khái niệm mâu thuẫn của Hegel, cái mới của Hegel là nói đến mâu thuẫn nội tại và mâu thuẫn nội tại đấy là động lực của sự phát triển. Nhưng Minh triết phương Đông thường tránh né mâu thuẫn để giữ sự hài hoà.; để giữ gìn hài hoà, phương Đông đi con đường vòng để tránh mâu thuẫn. Tôi cho rằng cái đó là không đúng, bởi vì mâu thuẫn là cái gì đó tự sinh sôi nảy nở. Mâu thuẫn bên trong có một tiềm lực rất mạnh.
GS Phạm Văn Các (Nguyên Viện trưởng Viện Hán nôm): Vậy ông định nghĩa Minh triết như thế nào?
GS François Jullien: Minh triết không phải là tư tưởng mềm yếu, Minh triết không phải là tư tưởng né tránh mâu thuẫn, Minh triết cũng không phải là sưu tầm những ý kiến tầm thường, đành rằng trong ý kiến tầm thường có chứa đựng Minh triết. Tôi định nghĩa Minh triết là hạ tầng của tư tưởng, hạ tầng này là cái nền cho sự phát triển của Triết học, Triết học phải trở về nó, lấy tài lực của nó để tiếp tục phát triển
TS Trần Văn Thành (Nhà xuất bản Tri thức): Đọc sách của ông, tôi thấy ông ít quan tâm đến Phật giáo trong khi trong tam giáo đồng nguyên, Phật giáo được đánh giá là có tính Triết học nhất. Theo ông, Phật giáo có mối quan hệ như thế nào với Minh triết?
GS François Jullien: Trong sách tôi ít nói đến Phật giáo bởi vì tôi nghiên cứu Triết học Hy Lạp cổ đại, mà thời cổ đại Hy Lạp tương ứng với cổ đại Trung Hoa và lúc ấy chưa có Phật giáo. Đấy là một lý do. Lý do nữa là Phật giáo có nguồn gốc từ Ấn Độ, Ấn Độ cũng có liên hệ với phương Tây ở gốc Ấn-Âu, trước hết là về ngôn ngữ. Ngôn ngữ Ấn Độ cùng dòng họ với những ngôn ngữ phương Tây, gọi là dòng họ Ấn-Âu. Phật giáo từ gốc của nó là đã có liên hệ gì đó với phương Tây ở gốc Ấn-Âu. Trong Phật giáo, tôi quan tâm đến Đại thừa và Thiền. Đại thừa và Thiền có cái đặc sắc của nó. Phần còn lại của Phật giáo vẫn còn liên quan đến Ấn-Âu, còn đến Đại thừa và Thiền nó đã có màu sắc Trung Quốc. Tôi quan tâm đến Thiền vì nó giải thoát khỏi các giáo điều, sống một cuộc sống thảnh thơi, và Thiền không chỉ ở Trung Quốc mà còn có ở nhiều nước khác ở phương Đông như Triều Tiên, Nhật và Việt Nam.
Ông Nguyễn Khắc Mai: Chúng tôi dự định sẽ đi tìm định nghĩa Minh triết và đi tìm diện mạo của Minh triết Việt, xem có những điểm tương đồng với Trung Hoa, Nhật Bản, với Pháp không. Bởi vì Pháp có một thời gian gắn bó với Việt Nam rất đáng kể, sự gắn bó ấy rất quý nên cần phải khai thác. Minh triết Việt có cái gì gần gũi với tư tưởng Pháp hay không. Bây giờ chúng tôi có thể khẳng định, Việt Nam không có hệ thống Triết học chặt chẽ như Trung Hoa, như Pháp, như Đức, nhưng chắc chắn nó có những hệ thống Minh triết mà chúng tôi gọi là cái nôi của văn hoá Việt. Chúng tôi rất hoan nghênh sự cộng tác và giúp đỡ của giáo sư François Jullien!