Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm đến thế hệ trẻ, đặc biệt là lứa tuổi thiếu niên, nhi đồng. Trong di chúc của người có viết: Thiếu niên, nhi đồng là người chủ tương lai của đất nước. Vì vậy "bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là điều rất quan trọng và cần thiết”.
Trong Chỉ thị số 197-CT/TW ngày 19/3/1960 của Ban Bí thư Trung ương về công tác thiếu niên, nhi đồng đã xác định " Các em thiếu niên, nhi đồng ngày nay sẽ là người xây dựng CNXH và CNCS sau này. Quan tâm đến thiếu niên, nhi đồng là quan tâm đến việc đào tạo, bồi dưỡng một lớp người mới, không những phục vụ cho sự nghiệp xây dựng CNCS sau này " và " Giáo dục thiếu niên, nhi đồng là một vấn đề không đơn giản mà là một vấn đề khoa học, trẻ em từ 6 đến 14,15 tuổi là đang ở thời kỳ phát triển nhanh chóng và có những đặc điểm về tâm, sinh lý ". Theo Chỉ thị 38-CT/TW ngày 30/5/1994 của Ban bí thư Trung ương Đảng, Trẻ em là nguồn hạnh phúc của gia đình, là tương lai của dân tộc, là lớp người kế tục sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc cần được ưu tiên bảo vệ, chăm sóc và giáo dục. Gần đây, trong Chỉ thị 1408/CT-TTg ngày 01/9/2009 của Thủ tướng Chính phủ Về tăng cường công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em đã đánh giá: Sau gần 10 năm thực hiện Chương trình hành động quốc gia vì trẻ em Việt Nam giai đoạn 2001-2010, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy Đảng, chính quyền, sự phối hợp của các ngành, đoàn thể, sự chăm lo cho trẻ em của mỗi gia đình, cộng đồng, công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em đã đạt được một số thành tựu đáng khích lệ: Đã đạt hoặc vượt nhiều mục tiêu, chỉ tiêu đến năm 2010 về chăm sóc sức khỏe, giáo dục cho trẻ em. Tuy nhiên, trên thực tế, một số quyền của trẻ em chưa được thực hiện tốt, một số chỉ tiêu đến năm 2010 về bảo vệ trẻ em của Chương trình hành động quốc gia vì trẻ em Việt Nam giai đoạn 2001-2010 và Chương trình ngăn ngừa và giải quyết tình trạng trẻ em lang thang, trẻ em bị xâm phạm tình dục và trẻ em phải lao động nặng nhọc, trong điều kiện độc hại, nguy hiểm giai đoạn 2004-2010 có khả năng không đạt, đặc biệt là chỉ tiêu giảm số lượng trẻ em bị xâm phạm tình dục, bị lạm dụng sức lao động, bị mua bán, bị bạo lực, bị tai nạn, thương tích, nhiễm HIV, phạm các tội đặc biệt nghiêm trọng. Nhiều hành vi vi phạm nghiêm trọng quyền trẻ em, xâm hại tình dục, bạo lực và mua bán trẻ em đã gây bức xúc trong dư luận xã hội. Nhìn ở phạm vi rộng hơn cho thấy, Việt Nam là nước thứ 2 trên thế giới và là nước đầu tiên ở Châu Á phê chuẩn tham gia Công ước Quốc tế về quyền trẻ em. Công ước Quốc tế về quyền trẻ em đã thể hiện khá đầy đủ, toàn diện các quyền: Dân sự, chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội liên quan đến trẻ em và mang tính toàn cầu. Việt Nam là một trong những quốc gia đầu tiên trên thế giới cam kết thừa nhận tính pháp lý về các quyền trẻ em. Bằng chứng là Việt Nam sớm có Luật quốc gia cam kết thực hiện Công ước quyền trẻ em (Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 1991, năm 2004) theo Luật pháp Việt Nam thì Quyền trẻ em và công tác bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em được thể hiện thông qua hệ thống văn bản pháp luật của Nhà nước. Đó là cơ sở pháp lý đòi hỏi các tổ chức, cá nhân, gia đình phải tôn trọng các quyền trẻ em, phải có trách nhiệm bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, mọi hành vi vi phạm quyền trẻ em đều phải bị xử lý theo quy định của pháp. Hệ thống pháp luật ở nước ta liên quan đến việc BVCS&GDTE có thể thấy qua các văn bản pháp luật như: Hiến Pháp năm 1992: Đây là bản Hiến pháp của thời kỳ đổi mới, đánh dấu một mốc quan trọng trong việc xác định một cách rõ ràng, toàn diện các quyền cơ bản của công dân, thừa nhận vấn đề quyền con người, trong đó có quyền trẻ em. Hiến pháp 1992 đã thể hiện có tính nguyên tắc sự cam kết của Nhà nước Việt Nam trong thực thi Công ước của LHQ về quyền trẻ em, là cơ sở quan trọng đề hình thành hệ thống pháp luật trong việc bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em. Cụ thể như: Quyền được sống, tồn tại, được chăm sóc, nuôi dưỡng (Điều 40, 63); quyền được giáo dục (Điều 35); Trẻ em thiệt thòi, trẻ em tàn tật, trẻ em mồ côi không nơi nương tựa cũng được Nhà nước và xã hội tạo điều kiện giúp (Điều 59, Điều 67). Luật Bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004: Được Quốc hội thông qua ngày 15/6/2004, có hiệu lực từ ngày 01/01/2005 (thay Luật BVCS&GDTE năm 1991). Theo Luật, trẻ em là công dân dưới 16 tuổi, mọi trẻ em không phân biệt đều được bảo vệ, chăm sóc và giáo dục, đó là trách nhiệm của gia đình, nhà trường, các cơ quan nhà nước và công dân, các quyền của trẻ em phải được tôn trọng và thực hiện, mọi hành vi xâm hại trẻ em đều bị nghiêm trị.Luật BVCS&GDTE đã quy định 10 nhóm hành vi bị nghiêm cấm liên quan đến bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em như: Cha mẹ bỏ rơi con; dụ dỗ lôi kéo trẻ em đi lang thang; lợi dụng trẻ em lang thang để trục lợi; dụ dỗ, lừa dối, ép buộc trẻ em mua bán, vận chuyển, tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma tuý; lôi kéo trẻ em đánh bạc; bán, cho trẻ em sử dụng rượu, bia, thuốc lá, chất kích thích khác có hại cho sức khoẻ; dụ dỗ, lừa dối, dẩn dắt, chứa chấp, ép buộc trẻ em hoạt động mại dâm; xâm hại tình dục trẻ em; Lợi dụng, dụ dỗ, ép buộc trẻ em mua bán, sử dụng văn hoá phẩm độc hại; Lạm dụng lao động trẻ em. Luật năm 2004 đã bổ sung đầy đủ hơn các quyền và bổn phận của trẻ em, theo đó, trẻ em là công dân, nên trẻ em có đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của công dân theo quy định của pháp luật Việt Nam và Công ước Quốc tế về quyền trẻ em. Luật đã quy định trẻ em có 10 quyền cơ bản là: Quyền được khai sinh và có quốc tịch; quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng; quyền được sống chung với cha mẹ; quyền được tôn trọng, bảo vệ tính mạng, thân thể, nhân phẩm và danh dự; quyền được chăm sóc sức khoẻ; quyền được học tập; quyền vui chơi giải trí, hoạt động văn hoá, văn nghệ, thể dục, thể thao, du lịch; quyền được phát triển năng khiếu; quyền có tài sản; quyền được tiếp cận thông tin, bày tỏ ý kiến và tham gia hoạt động xã hội. Bên cạnh những quyền nói trên, pháp luật cũng quy định trẻ em có bổn phận: Yêu quý, kính trọng, hiếu thảo với ông bà cha mẹ, kính trọng thầy giáo, cô giáo, lể phép với người lớn, thương yêu em nhỏ, đoàn kết với bạn bè, giúp đỡ người già yếu, người khuyết tật, tàn tật, người gặp hoàn cảnh khó khăn theo khả năng của mình; chăm chỉ học tập, giữ gìn vệ sinh, rèn luyện thân thể, thực hiện trật tự công cộng và an toàn giao thông, giữ gìn của công, tôn trọng tài sản của người khác, bảo vệ môi trường; yêu lao động, giúp đỡ gia đình làm những việc vừa sức mình; sống khiêm tốn, trung thực và có đạo đức, tôn trọng pháp luật, tuân theo nội quy của nhà trường; thực hiện nếp sống văn minh, gia đình văn hoá, tôn trọng giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc; yêu quê hương đất nước, yêu đồng bào, có ý thức xây dựng bảo vệ tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa và đoàn kết quốc tế. Bộ Luật hình sự năm 1999 và các vấn đề liên quan đến trẻ em: Về chính sách hình sự áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội đã xác định: Người chưa thành niên là người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội. Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm về mọi tội phạm. Việc xử lý người chưa thành niên phạm tội chủ yếu nhằm giáo dục, giúp đỡ họ sữa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh và trở thành công dân có ích cho xã hội. Người chưa thành niên phạm tội có thể được miễn trách nhiệm hình sự, nếu phạm tội ít nghiêm trọng hoặc tội nghiêm trọng gây thiệt hại không lớn, có nhiều tình tiết giảm nhẹ và được gia đình hoặc cơ quan, tổ chức giám sát, giáo dục. Khi xét xử nếu thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội, thì Toà án áp dụng một trong các biện pháp tư pháp như: Giáo dục tại xã, phường, thị trấn; Đưa vào Trường giáo dưỡng. Không xử phạt tù chung thân hoặc tử hình đối với người chưa thành niên phạm tội. Khi xử phạt tù có thời hạn, Toà án cho người chưa thành niên phạm tội được hưởng mức án nhẹ hơn mức án áp dụng đối với người đã thành niên phạm tội tương ứng. Không áp dụng hình phạt tiền đối với người chưa thành niên phạm tội ở độ tuổi từ 14 đến dưới 16 tuổi. Phạt tiền đối với người chưa thành niên phạm tội không quá ½ mức tiền phạt mà điều luật quy định. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với người chưa thành niên phạm tội. Án đã tuyên đối với người chưa thành niên phạm tội khi chưa đủ 16 tuổi, thì không tính để xác định tái phạm, tái phạm nguy hiểm. Ngược lại, pháp luật hình sự nước ta rất nghiêm khắc đối với với hành vi phạm tội xâm hại đến trẻ em và các quyền trẻ em. Nhìn chung Các tội phạm xâm hại đến trẻ em trong Bộ Luật hình sự phần lớn đều thuộc loại tội có tình tiết tăng nặng. Cụ thể một số tội danh như: + Tội dụ dỗ, ép buộc hoặc chứa chấp người chưa thành niên phạm pháp (Điều 252): Người nào dụ dỗ, ép buộc ngươi chưa thành niên hoạt động phạm tội, sống sa đọa hoặc chứa chấp người chưa thành niên phạm pháp thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm. Người phạm tội có thể bị phạt tù từ ba năm đến mười hai năm, nếu thuộc một trong các trường hợp: Có tổ chức; dụ dỗ, ép buộc, chứa chấp, lôi kéo nhiều người; đối với trẻ em dưới 13 tuổi; gây hậu quả nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng; tái phạm nguy hiểm. + Tội mua dâm người chưa thành niên (Điều 256): Người nào mua dâm người chưa thành niên từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm. Người phạm tội có thể bị phạt tù từ ba năm đến tám năm, nếu thuộc một trong các trường hợp: Phạm tội nhiều lần; mua dâm trẻ em từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi; gây tổn hại cho sức khoẻ của nạn nhân mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60%. Người phạm tội có thể bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm, nếu thuộc một trong các trường hợp: Phạm tội nhiều lần đối với trẻ em từ đủ 13 đến dưới 16 tuổi; biết mình bị nhiễm HIV mà vẫn phạm tội; gây tổn hại cho sức khoẻ của nạn nhân mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên. + Tội hiếp dâm trẻ em (Điều 112): Người nào hiếp dâm trẻ em từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm. Người phạm tội có thể bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, nếu thuộc một trong các trường hợp: Có tính chất loạn luân; làm nạn nhân có thai; gây tổn hại cho sức khoẻ của nạn nhân mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60 %; đối với người mà người phạm tội có trách nhiệm chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh; tái phạm nguy hiểm. Người phạm tội có thể bị phạt tù từ hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình, nếu thuộc một trong các trường hợp: Có tổ chức; nhiều người hiếp một người; phạm tội nhiều lần; đối với nhiều người; gây tổn hại cho sức khoẻ của nạn nhân mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên; biết mình bị nhiễm HIV mà vẫn phạm tội; làm nạn nhân chết hoặc tự sát. Đặc biệt theo khoản 4, Điều 112 Bộ luật hình sự “ Mọi trường hợp giao cấu với trẻ em chưa đủ 13 tuổi là phạm tội hiếp dâm trẻ em và người phạm tội bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình ”. Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000: Đây là cơ sở pháp lý quan trọng góp phần xây dựng, củng cố gia đình Việt Nam XHCN, giữ gìn và phát huy những phong tục tập quán tốt đẹp của dân tộc; Luật còn là công cụ để xác định mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình, đặc biệt là nghĩa vụ của cha mẹ đối với con như: Cha mẹ có nghĩa vụ thương yêu, nuôi nấng, giáo dục con cái; cha mẹ không được hành hạ con cái, không được đối xử tàn tệ với con nuôi, con riêng; nghiêm cấm việc vứt bỏ hoặc giết hại trẻ em mới đẻ và người gây ra việc ấy phải chịu trách nhiệm hình sự. Cha mẹ có nghĩa vụ thương yêu, nuôi dưỡng, giáo dục con, chăm lo việc học tập và sự phát triển lành mạnh của con về thể chất, trí tuệ, đạo đức; cha mẹ không được phân biệt đối xử giữa các con; cha mẹ phải làm gương tốt cho con về mọi mặt, phối hợp chặt chẽ với nhà trường và các tổ chức xã hội trong việc giáo dục con; cha mẹ có nghĩa vụ nuôi dưỡng con đã thành niên mà không có khả năng lao động để tự nuôi mình; các con có nghĩa vụ và quyền ngang nhau trong gia đình; con có nghĩa vụ kính trọng, chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ, lắng nghe những lời khuyên bảo của cha mẹ. Bộ Luật Dân sự 2005: Quy định nhiều nội dung liên quan đến các quyền của trẻ em, trong đó có các quyền về nhân thân, quyền về tài sản như: Trong trường hợp người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi có tài sản riêng bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thì có thể tự mình xác lập, thực hiện giao dịch dân sự mà không cần phải có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác (Điều 20); Cá nhân khi sinh ra có quyền được khai sinh (Điều 29); cá nhân có quyền có quốc tịch.Việc công nhận, thay đổi, nhập quốc tịch, thôi quốc tịch Việt Nam được thực hiện theo quy định của pháp luật về quốc tịch (Điều 45); Bộ Luật lao động liên quan đến trẻ em: Bộ Luật lao động năm 1994, qua các lần sửa đổi, bổ sung một số điều vào các năm 2002-2006-2007 quy định nhiều nội dung liên quan đến lao động trẻ em như: Người lao động là người ít nhất đủ 15 tuổi, có khả năng lao động và có giao kết hợp đồng lao động. Nơi có sử dụng người lao động chưa thành niên phải lập sổ theo dõi riêng, ghi đầy đủ họ tên, ngày sinh, công việc đang làm, kết quả những lần kiểm tra sức khoẻ định kỳ và xuất trình khi thanh tra viên lao động yêu cầu.Nghiêm cấm lạm dụng sức lao động của người chưa thành niên(Điều 119);cấm nhận trẻ em chưa đủ 15 tuổi vào làm việc, trừ một số nghề và công việc do Bộ LĐTB&XH quy định (Điều 120); Cấm sử dụng người lao động chưa thành niên làm những công việc nặng nhọc, nguy hiểm hoặc tiếp xúc với các chất độc hại (Điều 121). Thực tế cho thấy, tuy có sự quan tâm của các cấp ủy Đảng, chính quyền với một hệ thống pháp luật tương đối đồng bộ và hoàn chỉnh trong thực hiện các quyền trẻ em, nhưng trong thực tế tình trạng vi phạm quyền trẻ em, đặc biệt là xâm hại tình dục trẻ em, hành hạ ngược đãi trẻ em, bốc lột sức lao động trẻ em, mua bán trẻ em… có lúc, có nơi vẫn còn xảy ra rất nghiêm trọng như một thách thức đối với pháp luật và dư luận xã hội. Hy vọng những hạn chế, bất cập trên sẽ được nhìn nhận, đánh giá một cách toàn diện, sâu sát hơn trong quá trình thực hiện Chương trình hành động quốc gia vì trẻ em Việt Nam giai đoạn 2011-2015 và thực hiện Chỉ thị 1408/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường công tác bảo vệ,chăm sóc trẻ em./.
Phan Ngọc Minh
Giám đốc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh An Giang
Kết quả thực hiện chính sách, pháp luật về đầu tư xây dựng, quản lý và sử dụng các cơ sơ văn hóa, vui chơi giải trí cho trẻ em
Quyền được vui chơi, giải trí của trẻ em là một trong những quyền cơ bản được quy định trong Công ước Quốc tế về Quyền trẻ em mà nước ta đã phê chuẩn cũng như trong Luật Bảo vệ, Chăm sóc và Giáo dục trẻ em (được sửa đổi,...
Nhớ lại lần đầu tiên tôi gặp Hải trên đèo Ngang, em rụt rè nhìn tôi lạ lẫm rồi vùng chạy khi tôi đến gần bắt quen để tư vấn cho em. Em vụt chạy đã nhiều lần như vậy! Hải 15 tuổi nhưng dáng dấp giống với một học...
Cơ hội học tập của trẻ em lang thang - vấn đề cần được quan tâm
Trẻ em lang thang - một trong những đối tượng thuộc nhóm trẻ có hoàn cảnh đặc biệt hiện đang được các cấp, các ngành quan tâm và cho đây là vấn đề xã hội cần phải chung tay, góp sức giải quyết.
Nhà thơ Việt Phương: Có người cho rằng, sự bừng nở, sự phát triển cá nhân có một hàm lượng Minh triết và có một hàm lượng Triết học đích đáng, và do đó sự phát triển cá nhân hiện đại của phương Tây có thực chất của nó.
II. Cái phổ quát
Cái phổ quát (Pháp: l’universel)là một vấn đề lớn của Triết học. Ở phương Tây, khái niệm phổ quát không những quan trọng trong Triết học mà còn quan trọng trong cả chính trị. Tôi muốn phân biệt hai nghĩa khác nhau của từ phổ quát.
Lời giới thiệu của GS. Hoàng Ngọc Hiến: Nhận lời mời của Hoàng Ngọc Hiến, chủ tịch Hội đồng khoa học Trung tâm nghiên cứu Minh Triết Việt, trong 3 ngày 7, 8, 9 nhà triết học François Jullien, giáo sư Đại học Tổng hợp Paris- Diderot, Viện trưởng Viện...
Hỗ trợ trẻ em | Nghiên cứu-trao đổi | Lý luận và Thực tiễn | Thực hiện quyền trẻ em từ góc độ pháp luật
Tại BQLDA Trung ương đã tổ chức thực hiện 18 lần kiểm ra, giám sát (định kỳ và đột xuất) tại các tỉnh/thành phố. Tham gia đoàn kiểm tra, giám sát có một số đơn vị của Bộ LĐTBXH, Cục BVCSTE và BQLDA Trung ương. Qua hoạt động kiểm tra,...
Kết quả hoạt động hỗ trợ trẻ em
Tính đến hết ngày 30/8/2011 sau gần 3 năm thực hiện dự án (từ tháng 5/2009 - 8/2011) theo báo cáo của BQLDA các tỉnh/thành phố từ kết quả đánh giá cộng đồng tại địa phương, các hoạt động hỗ trợ đã tập trung vào hỗ trợ trẻ em lang...
Một số kiến thức cơ bản về quyền trẻ em
Để khuyến khích sự tham gia của trẻ em nhất là trẻ em lang thang (TELT) và trẻ em có nguy cơ lang thang (NCLT) ở các xã dự án, đồng thời nhằm chuẩn hóa và phổ biến mô hình CLB Quyền trẻ em và thúc đẩy quyền trẻ em...
Công tác vận động và phối hợp liên ngành hỗ trợ trẻ em lang thang tại Thành Phố Hồ Chí Minh
Tổ chức tiếp nhận nuôi dưỡng và dạy các chương trình văn hóa, dạy nghề, hướng nghiệp, giới thiệu việc làm cho số trẻ em được tập trung vào các Trung tâm Xã hội. Đặc biệt đối với trẻ em thuộc diện mồ côi không nơi nương tựa, tạo điều...
Sáng ngày 13/6/2011, tại Tp.Hải Phòng, Cục Bảo vệ, chăm sóc trẻ em phối hợp với các tổ chức quốc tế Unicef, Childfund, Save the children, ChildFund, World Vision, ILO, Plan, CRS , Hội LHPHVN, tổ chức khai mạc lớp tập huấn Diễn đàn trẻ em năm 2011. Tham...
Tại tỉnh Hưng Yên ngày 1/6, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (LĐTBXH)đã phối hợp với Ủy ban Nhân dân tỉnh Hưng Yên tổ chức lễ phát động “Tháng hành động vì trẻ em năm 2011” trên toàn quốc với chủ đề “Vì môi trường an toàn,...
Theo kết quả báo cáo sơ kết 6 tháng đầu năm 2011, BQLDA tỉnh Khánh Hòa đã phối hợp với các xã trong địa bàn dự án và các đơn vị chức năng triển khai hoạt động hỗ trợ TELT và trẻ em NCLT, cụ thể:
Vĩnh Phúc tổ chức hội nghị sơ kết dự án 6 tháng đầu năm 2011
Ngày 27/6 vừa qua tại Khách sạn Vĩnh Yên, BQLDA tỉnh Vĩnh Phúc tổ chức Hội nghị sơ kết dự án 6 tháng đầu năm 2011. Tới dự hội nghị có BQLDA Trung ương, các đại diện của Sở LĐTBXH tỉnh Vinh Phúc, BQLDA tỉnh Vĩnh Phúc, Chủ tịch xã...
Thực hiện kế hoạch tổ chức các hoạt động hưởng ứng tháng hành động vì trẻ em năm 2011 với chủ đề “Tạo môi trường an toàn, thân thiện và lành mạnh cho trẻ em” của Sở Lao động, Thương binh và Xã hội (LĐTBXH) và kế hoạch hoạt động...
Trong thời gian Quý II/2011, BQLDA tỉnh Thanh Hóa đã phối hợp với các xã trong vùng dự án triển khai hoạt động hỗ trợ TELT, trẻ em có NCLT. Kết quả đã thực hiện: